Posts by Web Editor

Vai trò của phụ nữ trong sử dụng và quản lý tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tỉnh Sơn La

Nhận thức được tầm quan trọng của phụ nữ trong công tác quản lý và phát triển rừng bền vững, Trung tâm Con người và Thiên nhiên đã phối hợp với Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha thực hiện đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và năng lực của các thành viên Hội phụ nữ tại 2 xã Chiềng Xuân và Xuân Nha, thuộc huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đây là 2 xã nằm giáp ranh Khu BTTN Xuân Nha, một trong những khu vực rừng còn nhiều tài nguyên quý của miền Bắc.

Hoạt động khảo sát hiện trường của nhóm nghiên cứu.

Hoạt động khảo sát hiện trường của nhóm nghiên cứu. Ảnh: PanNature.

Báo cáo cung cấp các thông tin về nhu cầu của phụ nữ người dân tộc tại 2 xã trong khai thác các loại LSNG từ rừng tự nhiên, hình thức sử dụng và kinh doanh một số loại LSNG chính tại địa phương. Chuỗi khai thác chế biến những loại lâm sản có vai trò quan trọng trong sinh kế của phụ nữ và cộng đồng như Măng, Ong mật, Mây tre đan, cây dược liệu được mô tả và phân tích chi tiết. Đồng thời kiến thức, kỹ năng của phụ nữ người dân tộc trong quản lý và phát triển rừng ở địa phương cũng được đánh giá, làm cơ sở cho việc thúc đẩy sự tham gia hiệu quả hơn của phụ nữ trong quản lý sử dụng rừng và phối hợp với các lực lượng chức năng địa phương. Báo cáo cũng nêu một số đề xuất kiến nghị cụ thể để cải thiện tính bền vững trong khai thác sử dụng LSNG của phụ nữ tại Xuân Nha và nâng cao năng lực cho Hội phụ nữ trong quản lý phát triển rừng.

Phỏng vấn tại hiện trường. Ảnh: PanNature.

Phỏng vấn tại hiện trường. Ảnh: PanNature.

Nhóm thực hiện xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thành viên Hội phụ nữ 2 xã Chiềng Xuân và Xuân Nha đã tham gia trao đổi, cung cấp thông tin trong quá trình điều tra. Xin cảm ơn Ban quản lý Khu BTTN Xuân Nha đã tạo điều kiện và hỗ trợ tích cực nhóm công tác trong khi thực hiện đánh giá tại địa phương. Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn Quỹ GREEN Mekong Challenge Fund và Trung tâm Con người và Rừng (RECOFTC) đã tài trợ cho chương trình này.

Đọc báo cáo trực tuyến:

Tải báo cáo (File PDF, 3.04MB) >>

Bản tin Chính sách số 16, Quý 4 năm 2014

Chuyên đề của Bản tin chính sách kỳ này sẽ điểm lại những thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo tồn ĐDSH của Việt Nam, đồng thời sẽ bàn luận về một số bất cập, thách thức cần giải quyết liên quan đến hệ thống quản lý nhà nước, tài chính cho bảo tồn, đánh giá tác động của hoạt động phát triển lên ĐDSH, quy hoạch và quản lý khu bảo tồn, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn và các hướng tiếp cận mới trong bảo tồn thiên nhiên.

Read more →

Khó xử lý nghiêm vi phạm môi trường

Ngày 27.12, tại hội thảo bảo vệ môi trường trong hệ thống các khu công nghiệp ở Việt Nam, luật sư Nguyễn Văn Hậu – Phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM – cho hay do hệ thống pháp luật bất cập gây ra khó khăn trong việc xử lý nghiêm việc vi phạm môi trường.

anhnoidung_moitruongKhu xử lý nước thải của một doanh nghiệp – Ảnh: Trung Hiếu

Cụ thể, theo ông Hậu, khoản 3 điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 không cho phép khởi kiện tập thể.

Trong đơn kiện, người đi kiện phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của cá nhân, đồng thời ở cuối đơn phải ký tên hoặc điểm chỉ. Sau đó người đi kiện mới có quyền ủy thác cho cá nhân khác tham gia tố tụng thay mình.

Quy định này sẽ gây ra khó khăn, tốn kém cho người đi kiện cũng như cả tòa án. Ví dụ như trong vụ Vedan, nếu toàn bộ 6.973 hộ nông dân bị thiệt hại đồng loạt khởi kiện đòi Vedan bồi thường thì sẽ có 6.973 đơn kiện và cũng từng đó vụ buộc tòa phải xem xét, giải quyết.

“Với việc xem xét từng đó hồ sơ, tòa phải mất nhiều năm, vi phạm thời hạn giải quyết mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định”, ông Hậu nói.

Theo ông Hậu, hay như mới đây người nông dân ở Thanh Hóa muốn khởi kiện Công ty Nicotex Thanh Thái. Trong quá trình tư vấn pháp lý, người dân muốn ủy quyền cho hội nông dân khởi kiện nhưng pháp luật không cho phép nên phải làm đơn khởi kiện riêng lẻ.

Do vậy, luật sư Hậu kiến nghị luật Bảo vệ môi trường nên sửa đổi theo hướng cho phép người dân bị thiệt hại do hành vi ô nhiễm môi trường gây ra được có quyền khởi kiện tập thể.

“Việc cho phép khởi kiện tập thể không những tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn giảm áp lực cho tòa án trong việc giải quyết vụ án”, ông Hậu nói.

Tại hội thảo, nhiều đại biểu cho hay trên thực tế ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp diễn ra khá phổ biến và hết sức nghiêm trọng ở nhiều nơi, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và sinh kế của những người dân nghèo phụ thuộc trực tiếp vào các nguồn tài nguyên đât và nước.

Ngoài ra, mặc dù công cụ chính sách đánh giá tác động môi trường đã được ban hành nhằm sàng lọc những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm. Tuy nhiên, sau quá trình đánh giá tác động môi trường, một số dự án đầu tư trong khu công nghiệp có trình độ lạc hậu vẫn được chấp thuận đưa vào sản xuất gây ô nhiễm môi trường kéo dài và rất khó giải quyết.

Nguồn: Báo Thanh Niên

Ai quản lý môi trường?

Ngày 27-12, tại TPHCM, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Viện Khoa học Môi trường – Phát triển, tổ chức hội thảo “Bảo vệ môi trường (BVMT) trong hệ thống các khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam: Các lỗ hổng chính sách, vấn đề minh bạch thông tin và các tác động đối với môi trường”. Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý cho rằng, tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN đang ở mức báo động. Tuy nhiên, chính sách quản lý pháp luật về môi trường lại còn có quá nhiều lỗ hổng.

images480426_3eĐường ống xả nước thải trực tiếp ra sông của Công ty thuộc da Hào Dương thuộc KCN Hiệp Phước. Ảnh: Thành Đồng

42% nước thải xả thẳng ra môi trường

PGS-TS Phùng Chí Sỹ, Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ môi trường, cho biết, ước tính tổng lượng nước thải phát sinh từ 179 KCN đang hoạt động khoảng 622.773m3. Trong đó, lượng nước thải đã qua xử lý khoảng 362.450m3, còn lại 42% không được xử lý và xả thẳng ra nguồn nước. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường đất xung quanh các KCN, cụm công nghiệp (CCN) cũng rất đáng báo động.

Theo thông tin từ GS-TS Võ Thanh Thu, Trường Đại học Kinh tế TPHCM, hiện vẫn còn khoảng 75% KCN và 85% CCN ở khu vực ĐBSCL chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc có xử lý nhưng nước thải chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định. Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Bộ TN-MT, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%. Nhiều KCN chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp.

“Lỗ hổng” về chính sách

Theo PGS-TS Phùng Chí Sỹ, trong những năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật và các cơ chế, chính sách về quản lý môi trường các KCN, CCN như Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 88/2007/NĐ-CP về thoát nước đô thị và KCN… Tuy nhiên, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT các KCN, CCN vẫn thiếu hoặc chưa đồng bộ, một số văn bản thiếu tính liên kết, chưa phù hợp với tính đặc thù của loại hình hoạt động này nên phần nào đã gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm tra cũng như các cơ sở sản xuất trong quá trình triển khai và tổ chức thực hiện.

Ở góc độ cơ quan quản lý nhà nước, ông An Nam Sơn, Trưởng phòng Quản lý môi trường, Ban Quản lý các KCN tỉnh Bình Thuận cho rằng, hiện nay về quy hoạch các KCN, Chính phủ phê duyệt quy hoạch dựa trên đề xuất của các địa phương; trong khi đó, vì muốn thu hút đầu tư KCN để phát triển kinh tế – xã hội nên các tỉnh, thành bằng mọi giá đề xuất xây dựng KCN nhưng không hoạch định chính sách thu hút ngành nghề đầu tư ngay từ đầu, cũng như không tính đến yếu tố tác động môi trường. Ngoài ra, hiện nay quy hoạch phân vùng và quy hoạch chi tiết, quy hoạch các dịch vụ đi kèm với các KCN còn hạn chế. “Quy hoạch trong vùng trũng, bị áp thấp nhiệt đới nên khi phát thải ra không thoát được nên gây ô nhiễm môi trường là đương nhiên” – ông Sơn đặt vấn đề. Còn ông Cao Tiến Sỹ, Phó ban Quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai nêu bất cập, hiện nay trong KCN có nhiều đơn vị quản lý nhưng đơn vị đầu mối là ai để quản lý, tích hợp thông tin để tìm ra lỗi vi phạm môi trường nhằm chấn chỉnh kịp thời thì không quy định rõ.

Là người tham gia giải quyết khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến vấn đề ô nhiễm ở các KCN, Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TPHCM ví von: “Trong vấn đề môi trường ai cũng hiểu nhưng có một điều mọi người không hiểu là công tác quản lý môi trường và pháp luật liên quan đến quản lý môi trường”. Để chứng minh cho vấn đề này, luật sư Hậu đưa dẫn chứng vụ Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam xả thải sai quy định tại lưu vực sông Thị Vải gây ô nhiễm, thiệt hại cho các hộ dân ở Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, TPHCM. Theo luật sư Hậu, để chứng minh thiệt hại do đơn vị này gây ra phải mất 3 năm do các thông tin không được công khai minh bạch. Đó là chưa kể, quy định hiện nay không cho phép khởi kiện tập thể, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm là quá ngắn, gây khó khăn cho công tác thu thập thông tin chứng minh các vi phạm. Đây là điều kiện cho các đơn vị vi phạm về môi trường cố tình kéo dài thời gian thương lượng để tránh bị khởi kiện. Ngoài ra, theo quy định việc lấy mẫu xác định thiệt hại nếu không có văn bản của UBND tỉnh thì cũng chào thua; trong khi vấn đề này khi được đề nghị hỗ trợ thì thường chỉ nhận được sự im lặng từ phía cơ quan chính quyền.

Theo các chuyên gia, nhà khoa học, để vấn đề BVMT ở các KCN, CCN đạt được hiệu quả cao, nhà nước cần rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện văn bản pháp luật liên quan đến quản lý môi trường các KCN, CCN và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Hoàn thiện hệ thống tổ chức, phân công, phân nhiệm quản lý môi trường KCN, CCN ở trung ương và địa phương. Tăng cường thanh tra, kiểm tra môi trường KCN, CCN. Tuyên truyền, tập huấn, giáo dục và nâng cao nhận thức về BVMT ở các KCN, CCN. Cần xem xét lại vấn đề quy hoạch các KCN, CCN nhất là vấn đề địa điểm xây dựng. Khuyến khích thu hút các dự án công nghệ cao, dự án xanh thân thiện với môi trường. Cần phải đưa ra tiêu chuẩn vùng và phải có hệ thống pháp lý quản lý vùng.

Nguồn: Báo Sài gòn Giải phóng

“Ăn quỵt” môi trường là tham nhũng

Nhà nước không có số liệu về trữ lượng các mỏ ở dưới đất nên không quản được khối lượng khai thác. Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, phát biểu như trên tại buổi tọa đàm “Các sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên tổ chức hôm 24-12. Pháp Luật TP.HCM xin lược ghi.

833_6chotc7dc6jpg.jpg.ashxNhà nước không có số liệu về trữ lượng các mỏ là một vấn đề đáng lo ngại khi không quản được khối lượng khai thác.

Lấy một phải trả cả ngàn

Khai thác quặng sắt tại vùng hồ Ba Bể gây ô nhiễm nước hồ, phá rừng làm thủy điện gây lũ lụt ở miền Trung, vỡ hồ chứa bùn đỏ do khai thác titan tại Bình Thuận, khai thác bauxite ở Tây Nguyên… đó là những ví dụ về khai thác tài nguyên gây tác động xấu đến môi trường.

Trong khai thác khoáng sản đòi hỏi mức đầu tư cao hơn mới có thể bảo vệ môi trường, đó là lý do chính để các nhà đầu tư tìm mọi cách lẩn tránh các chi phí này. Các nhà kinh tế gọi đây là “ăn quỵt” môi trường. Nếu cơ quan quản lý không “vững tay” mà bỏ qua, đó là thiếu trách nhiệm; nếu tham gia luôn vào bộ máy ấy, đó là thiếu đạo đức.

Đáng nói là nếu lấy một đồng của môi trường hôm nay, thế hệ tương lai sẽ phải trả hàng ngàn đồng để khắc phục. Không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư là một hình thức tham nhũng trong khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Chưa có quy định về bồi thường

Pháp luật về môi trường của ta hiện nay chưa có quy định về bồi thường thiệt hại từ việc khai thác tài nguyên tất yếu gây ra. Trong nhiều năm, các nhà máy tại KCN Biên Hòa khiến sông Đồng Nai ô nhiễm nặng. Và nếu không có vụ bắt quả tang Nhà máy Vedan xả thải trực tiếp ra sông thì người dân cũng không có cơ hội đòi bồi thường.

Nhận thức về khoa học-công nghệ môi trường còn yếu kém đã dẫn tới tình trạng không dự báo hết các tác động. Hiện ở miền Trung có trên 40 đơn vị khai thác ở 38 khu mỏ, có 18 xưởng tuyển tinh quặng, hơn 2 triệu tấn quặng đã được khai thác. Ở đây, người dân hoàn toàn không được hưởng lợi từ bồi thường về môi trường. Trong khi tài nguyên đất bị mất, rừng phòng hộ bị tàn phá, nguồn nước ngọt nhiễm bẩn, nhiễm mặn, không khí nhiễm bụi, ảnh hưởng sức khỏe người dân.

Thực tế như vậy nhưng chưa hề có một tính toán về bài toán phân tích giữa chi phí và lợi ích. Nếu tính được thật khách quan, chắc nhiều khu mỏ đã bị ngừng cấp phép khai thác.

Xử lý không đủ răn đe

Việc thực thi pháp luật kém đã làm hầu hết doanh nghiệp coi báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ là hình thức và hầu như quên ngay báo cáo này trong quá trình triển khai dự án. Với thực trạng đó, các cơ quan quản lý phải tích cực thực hiện công cụ thanh tra, kiểm tra và tạo điều kiện cho các tổ chức, công dân thực hiện giám sát. Tuy nhiên, việc kiểm tra không thường xuyên và khi phát hiện sai phạm, cách xử lý không triệt để đã không có tác dụng răn đe.

Một vấn đề rất đáng lo ngại là Nhà nước không có số liệu về trữ lượng các mỏ nên không quản được khối lượng khai thác. Số liệu dựa vào kê khai của doanh nghiệp khiến việc tính thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản không tương xứng. Đây là kẽ hở lớn nhất trong bài toán hài hòa lợi ích. Hiện tại lợi ích đang nghiêng hẳn về nhà đầu tư khai thác, Nhà nước được không đáng kể và cư dân địa phương chịu thiệt thòi hoàn toàn.

Cộng đồng địa phương có rất ít cơ hội tiếp cận thông tin các dự án khai thác mỏ, dù họ là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc môi trường bị ảnh hưởng. Các lỗ hổng chính sách và sự yếu kém trong công tác thanh tra đang được xem là nguyên nhân chính của xâm hại môi trường. Ông NGUYỄN VIỆT DŨNG, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên

Có một nghịch lý là doanh nghiệp lấy đi tài nguyên và để lại hậu quả xấu nhưng địa phương lại phải đi xin doanh nghiệp giúp đỡ lại một cách tùy lòng hảo tâm chứ không bắt buộc. Do đó cần phải có quy định cứng, doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải có nghĩa vụ như thế nào với địa phương. Ông NGUYỄN ĐỨC QUÝ, Hội Tuyển khoáng Việt Nam

Ở Việt Nam, minh bạch trong khai thác khoáng sản là rất khó. Chúng tôi có đoàn chuyên gia 10 người trong nhiều lĩnh vực, làm việc với một doanh nghiệp khai thác than ở Quảng Ninh trong một tuần. Dù đã tiếp cận với sổ sách kế toán nhưng chúng tôi cũng không thể biết doanh nghiệp đã bán cho Nhà nước bao nhiêu tấn than, bán ra ngoài bao nhiêu và bao nhiêu than thổ phỉ. Ông ĐÀO TRỌNG HƯNG, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam

Nguồn: Báo Pháp luật Tp. HCM

Tuyển dụng Cán bộ Nghiên cứu Chính sách

Bạn đang tìm kiếm một công việc trong môi trường năng động, nhiều thử thách và có thể tạo ra thay đổi tích cực cho xã hội? Bạn sở hữu chuyên môn sâu, có kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực môi trường, tài nguyên thiên nhiên? Bạn muốn gia nhập đội ngũ của Trung tâm Con người và Thiên nhiên?

Chúng tôi hiện đang cần tuyển dụng 01 Cán bộ Nghiên cứu Chính sách, chi tiết cụ thể như sau:

Nội dung công việc
Vị trí tuyển dụng là nhân sự trực thuộc Phòng Nghiên cứu Chính sách của PanNature. Nhiệm vụ chính của chức danh này là theo dõi, tổng hợp, đánh giá và phân tích tác động của các chính sách phát triển đối với tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh thái. Chức danh này cũng có nhiệm vụ hỗ trợ và thúc đẩy các thành viên khác thuộc Phòng nghiên cứu chính sách các kỹ năng nghiên cứu, phân tích và phát triển các nhiệm vụ chuyên môn khác.

Nhiệm vụ cụ thể:

  • Trực tiếp thực hiện các nghiên cứu và phân tích chính sách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và quản trị tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản.
  • Quảng bá các nội dung và quan điểm nghiên cứu của PanNature tại các diễn đàn chính sách và truyền thông đến các nhóm đối tượng phù hợp.
  • Hỗ trợ các thành viên thuộc Phòng nghiên cứu chính sách các kỹ năng nghiên cứu, phân tích và phát triển năng lực chuyên môn khác.
  • Trực tiếp biên tập các báo cáo nghiên cứu, báo cáo kỹ thuật và bài viết từ nghiên cứu viên trong nhóm.
  • Hỗ trợ Trưởng phòng Nghiên cứu Chính sách trong các hoạt động xây dựng chương trình/dự án nghiên cứu, tham vấn, góp ý chính sách khi có yêu cầu.

Tham khảo Bản mô tả công việc tại đây >>

Yêu cầu

  • Thạc sỹ chuyên ngành môi trường, quản lý tài nguyên hoặc chính sách công. Ưu tiên các ứng viên có học vị Tiến sỹ.
  • Đã chủ trì thực hiện ít nhất 01 nghiên cứu về các vấn đề liên quan.
  • Có sở thích thực hiện các nghiên cứu và đánh giá xã hội.
  • Có khả năng viết và biên tập báo cáo tốt.
  • Có tư duy phân tích và phản biện tốt.
  • Sử dụng tiếng Anh văn bản và giao tiếp tốt (ưu tiên ứng viên có IELTS từ 7.0 hoặc TOETL IBT từ 90 điểm trở lên).
  • Có ít nhất 05 kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực phát triển, bảo vệ môi trường, quản trị tài nguyên, hay chính sách xã hội.
  • Ưu tiên các ứng viên có kinh nghiệm làm việc trong các tổ chức nghiên cứu hoặc đã chủ trì thực hiện các nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan.
  • Sẵn sàng đi công tác trong và ngoài nước theo yêu cầu của công việc được giao.

Hồ sơ bao gồm:
– Đơn xin việc, trong đó nêu rõ mức lương đề nghị.
– Sơ yếu lý lịch tự thuật nêu rõ các kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, quá trình đào tạo, sở thích, các bài báo khoa học, ấn phẩm đã xuất bản (nếu có).
– Các văn bằng liên quan (photo không cần công chứng)

Trung tâm sẽ yêu cầu ứng viên nộp các hồ sơ cá nhân khác sau khi được tuyển dụng.

Hạn nộp hồ sơ: ngày 24/01/2014

Các ứng viên quan tâm xin nộp hồ sơ qua:
Chị Trần Hồng Phượng
Trung tâm Con người và Thiên nhiên
Địa chỉ: 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa, đường Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: phuongth@nature.org.vn
Điện thoại: (04) 3556 4001, máy lẻ: 105

Lưu ý: Hồ sơ có thể gửi chuyển phát nhanh qua đường bưu điện hoặc qua email. Không cần nộp hồ sơ gốc hoặc bản công chứng.

Tọa đàm chính sách “Vai trò của các sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường”

Ngày 24/12/2013 Hà Nội, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức tọa đàm chính sách “Vai trò của các sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường” với mục tiêu nhằm đánh giá và thảo luận về việc lồng ghép các sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn Luật Bảo vệ Môi trường 2005 đang được nghiên cứu sửa đổi và Chính phủ đang xem xét khả năng tham gia Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác (EITI).

img_2995Trong hai thập kỷ qua, ngành công nghiệp khai thác của Việt Nam đã tăng trưởng một cách mạnh mẽ. Đặc biệt, do sự phân cấp cho chính quyền địa phương từ năm 2005, số lượng giấy phép khai thác khoáng sản đã gia tăng nhanh chóng. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chỉ trong vòng 3 năm từ 2005 – 2008, số lượng giấy phép do địa phương cấp đã lên tới con số 3.495. Tuy có những đóng góp tích cực về mặt kinh tế, ngành công nghiệp khai khoáng của Việt Nam cũng để lại nhiều hệ lụy về môi trường và xã hội.

Khai khoáng là một trong những loại hình công nghiệp gây nhiều tác động nhất đối với môi trường và xã hội. Đặc thù của công nghiệp khai thác khoáng sản là không thể lựa chọn vị trí dự án. Do đó, một số dự án khai thác phải triển khai trong khu bảo tồn, rừng phòng hộ hay tại những khu vực có tính chất địa lý nhạy cảm. Ngoài ra, hoạt động khai thác còn chiếm dụng một diện tích rất lớn để phục vụ cho các bãi thải và nhiều hạng mục khác. Do đó, khai khoáng thường gây tác động môi trường ở phạm vi rộng và có thể kéo dài sau khi kết thúc khai thác. Cũng do các đặc thù trên, các dự án khai khoáng phải trải qua quá trình tham vấn, đồng thuận và được quản lý chặt chẽ bởi hệ thống chính sách riêng biệt tại nhiều quốc gia phát triển.

Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống chính sách tương đối hoàn chỉnh để phục vụ công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc xâm phạm môi trường trong khai thác khoáng sản vẫn đang là một vấn đề nóng khiến nhân dân bức xúc. Ngoài ra, cộng đồng địa phương có rất ít cơ hội tiếp cận thông tin liên quan đến các dự án khai thác mỏ dù họ là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong các vụ xâm phạm môi trường. Thực trạng trên đặt những câu hỏi lớn về tính hiệu quả của công cụ quản lý hiện tại và nguồn gốc của vụ việc vi phạm môi trường trong khai thác mỏ. Trong thời gian qua, các lỗ hổng chính sách và sự yếu kém trong công tác thanh tra đã được đặt ra trong nhiều diễn đàn như những nguyên nhân chính của xâm hại môi trường. Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan trọng chưa được thảo luận nhiều trong các diễn đàn chính sách là sự minh bạch công tác bảo vệ môi trường và quản trị tài nguyên.

Tọa đàm ” Vai trò của sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường” nhằm tạo diễn đàm mở để đại diện các tổ chức xã hội, các cơ quan nghiên cứu và các chuyên gia độc lập cùng thảo luận về các bấp cập trong công tác BVMT trong công nghiệp khai khoáng, hướng tới việc đóng góp cho quá trình sửa đổi Luật BVMT 2005.

Nguồn: Tạp chí Kinh tế Môi trường

Cần minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường

Trong hai thập kỷ qua, sự tăng trưởng của công nghiệp khai khoáng Việt Nam đã đóng góp tích cực về mặt kinh tế song cũng để lại nhiều hệ lụy về môi trường và xã hội.

Trong cuộc Tọa đàm chính sách về “Vai trò của các sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên tổ chức ngày 24/12 tại Hà Nội, ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm cho rằng khai khoáng là một trong những loại hình công nghiệp gây nhiều tác động nhất đến môi trường và xã hội.

4233Tác động rõ nét nhất tới môi trường do khai thác khoáng sản ở Việt Nam là làm biến dạng địa mạo và cảnh quan khu vực; chiếm dụng nhiều diện tích trồng trọt để mở khai trường sản xuất và đổ đất đá thải, làm ô nhiễm nguồn nước và đất đai quanh mỏ. Sau quá trình khai thác mỏ thường để lại các dạng địa hình có tiềm năng gây sạt lở cao, làm ô nhiễm môi trường, gây nguy hiểm cho con người, súc vật, động vật hoang dã trong khu vực.

Theo thống kê của Bộ TNMT, từ năm 2008 đến nay, Bộ và các tỉnh, thành phố đã duyệt 1.420 dự án cải tạo, phục hồi môi trường với tổng số tiền ký quỹ là trên 1.360 tỷ đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chưa quan tâm thực hiện. Nguyên nhân là vẫn chưa có hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về cải tạo, phục hồi môi trường cho từng loại hình khai thác khoáng sản.

Mặt khác, sự yếu kém trong công tác quản lý và thanh tra cũng là nguyên nhân chính của sự xâm hại môi trường. Vì vậy, cần có sự minh bạch về công tác bảo vệ môi trường và quản trị tài nguyên.

Đề cập về những vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khai khoáng hiện nay, ông Đỗ Thanh Bái thuộc Hội Hóa học Việt Nam cho rằng, tác động từ hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản dẫn đến sự rủi ro của các hồ chứa nước; gây ô nhiễm nguồn nước; mất thảm thực vật và rừng; làm biến đổi địa mạo; gây ra bụi và khí thải, nước thải…

GS.TS Đặng Hùng Võ cho rằng “tham nhũng” môi trường từ khai thác tài nguyên thiên nhiên đang là một yếu kém chưa có giải pháp khắc phục hiện nay.

“Thực sự giải pháp không khó và đã được kiểm nghiệm ở nhiều nước, kể cả những nước đang phát triển như: Indonesia, Philippines… Điều quan trọng là phải thay đổi cách tiếp cận trên nguyên tắc tiếp nhận các thể chế “sạch”, không có tham nhũng. Chúng ta có thể suy nghĩ đến việc áp dụng Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng (EITI) để quản trị ngành khai khoáng”, ông Võ nói.

Nguồn: Báo điện tử Chính phủ

Khía cạnh môi trường – xã hội của hệ thống khu công nghiệp Việt Nam

Hệ thống khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển mạnh từ những năm 1991 cùng với chính sách đổi mới kinh tế của đất nước. Cho đến tháng 6/2011, cả nước có 260 KCN ở 57 tỉnh thành, với tổng diện tích 72.000 hecta.

KCN tập trung chủ yếu ở các vùng trọng điểm kinh tế của Việt Nam: 124 khu (48%) ở phía Nam, 52 khu (20%) ở phía Bắc, và 23 khu (10%) ở miền Trung. Hầu hết các KCN có quy mô nhỏ, có diện tích dưới 200 hecta.

Sau 25 năm, hệ thống KCN đã có nhiều đóng góp tích cực cho những thành công về mặt kinh tế – xã hội của đất bước. Cho đến hết năm 2010, hệ thống KCN tạo ra hơn 1,6 triệu việc làm trực tiếp, chưa tính đến việc làm gián tiếp qua dịch vụ và hiệu ứng lan tỏa (Theo Nguyễn Bình Giang (2012). Tác động xã hội vùng của các khu công nghiệp ở Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội). Các cộng đồng sống xung quanh các KCN có cơ hội chuyển đổi việc làm nông nghiệp sang các ngành nghề có thu nhập cao hơn.

Hệ thống KCN cũng mang lại nguồn thu ngân sách lớn cho nhiều tỉnh thành. Ví dụ, các KCN đóng góp 235 triệu đô-la Mỹ  trong năm 2005 và lên đến 350 triệu đô-la Mỹ năm 2010 cho ngân sách tỉnh Đồng Nai (chiếm 36% ngân sách năm 2010). Ở Vĩnh Phúc, nguồn thu từ KCN đóng góp tới khoảng 80% ngân sách.

Bên cạnh những đóng góp lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong những thập kỷ qua, việc phát triển hệ thống KCN cũng đòi hỏi có nhiều đánh đổi nhất định. Những hệ quả môi trường – xã hội đang dần bộc lộ, nhiều khi dẫn đến những xung đột lợi ích ở một số nơi liên quan đến tình trạng ô nhiễm từ hoạt động sản xuất, chế biến ở các KCN. Một số vụ việc điển hình như Vedan, Sonadezi Long Thành, … diễn ra trong thời gian gần đây cho thấy công tác quản lý môi trường ở các KCN đang đối mặt với nhiều thách thức. Cộng đồng người dân sống xung quanh các KCN đang phải gánh chịu hậu quả của quá trình phát triển nhưng chưa được đền bù một cách phù hợp.


View Khía cạnh môi trường – xã hội của hệ thống KCN Việt Nam in a larger map

Bản đồ trên đây minh họa các vấn đề môi trường, xã hội xung quanh hệ thống KCN Việt Nam qua phản ánh của báo chí trong những năm vừa qua (2007 – 2013). Quý vị độc giả có thể xem thông tin chi tiết ở từng địa điểm bằng cách nhấn chuột vào điểm đánh dấu. Chú giải:

  • Màu đỏ: Ô nhiễm môi trường KCN
  • Màu xanh nước biển: Chính sách, đầu tư, phát triển KCN
  • Màu xanh lá cây: Các vấn đề khác

Một số nguồn tham khảo thêm:  

 

Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa,
Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 | Fax: 024 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn