Posts by Web Editor

Điền dã đánh giá tác động môi trường hoạt động khai thác titan Bình Thuận

Diễn đàn Nhà báo Môi trường Việt Nam (VFEJ) có kế hoạch tổ chức điền dã cho các phóng viên đến từ các báo trung ương và địa phương tìm hiểu về thực trạng môi trường tại địa phương, đặc biệt tìm hiểu về các vấn đề nảy sinh từ hoạt động khai thác titan Bình Thuân. Cụ thể, đoàn nhà báo và nhà khoa học sẽ tìm hiểu các tác động của hoạt động khai thác titan tại Bình Thuận tới cộng đồng địa phương trên các mặt kinh tế, xã hội, và môi trường. Chuyến đi diễn ra bốn ngày, từ sáng Thứ Ba, ngày 17/12/2013, đến Thứ Sáu, ngày 20/12/2013.

Tại Kì họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII, đang diễn ra tại Hà Nội, một lần nữa các tồn tại và các tác động xã hội, môi trường của ngành khai khoáng được đưa ra thảo luận rất nhiều khi xem xét dự án sửa đổi Luật Bảo vệ Môi trường  Năm 2005.

Hầu hết các hoạt động khai thác khoáng sản đều gây ra sự biến đổi môi trường ở mức độ cao và có tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo. Tuy nhiên, hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập. Hầu hết các công ty khai thác chế biến khoáng sản đều đã thực hiện lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), nhưng còn mang tính đối phó, hình thức hóa hồ sơ chưa thực sự mang lại hiệu quả.

vo-ho-titan-1Vỡ hồ chứa thải titan tại Bình Thuận ngày 18.11 vừa qua đã gây ảnh hưởng nhiều đến môi trường nơi đây.

Để có thông tin mới nhất về thực trạng báo cáo đánh giá tác động môi trường của hoạt động khai thác titan, cũng như các tác động của hoạt động đó đến môi trường và xã hội ở địa phương, Diễn đàn Nhà báo Môi trường Việt Nam (VFEJ) phối hợp cùng với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức cho các nhà báo điền dã về một số địa điểm thuộc khu vực miền Trung để tìm hiểu thực trạng đánh giá tác động môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản titan tại đây.

Khai thác titan đang gây ra những bức xúc lớn trong nhân dân. Không chỉ đơn thuần là chảy máu khoáng sản, mà còn là tiền đề nảy sinh khiếu kiện, tranh chấp và nghiêm trọng nhất là ô nhiễm môi trường. Điển hình là vụ vỡ hồ chứa bùn titan vào ngày 18/11/2013 của công ty cổ phần Đầu tư khoáng sản và thương mại Bình Thuận (xã Thuận Quý, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh  Bình Thuận). Lũ bùn đỏ cuốn trôi 3 xe máy, gây ngập úng cả khu vực rộng lớn tại khu vực giáp ranh huyện Hàm Thuận Nam và TP Phan Thiết.

Nguồn: biendoikhihau.gov.vn

PanNature chuyển trụ sở mới

Trung tâm Con người và Thiên nhiên xin thông báo kể từ ngày 10/12/2013, văn phòng cơ quan chúng tôi chuyển về địa chỉ mới:

Số 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Bản đồ chỉ dẫn: http://nature.org.vn/vn/lien-he/ban-do-chi-dan/

Số điện thoại, fax, email, địa chỉ hòm thư bưu điện không thay đổi:
ĐT: 04 3556-4001
Fax: 04 3556-8941
Email: contact@nature.org.vn
Thư tín: Hòm thư 612, Bưu điện Hà Nội, Hà Nội

PanNature-Office-Map

Xin trân trọng thông báo để quý cơ quan, tổ chức và các đối tác được biết, để thuận tiện trong việc liên hệ công tác. Trung tâm Con người và Thiên nhiên rất mong tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, hợp tác lâu dài từ quý vị.

Trân trọng cảm ơn!

Thông báo tuyển dụng Cán bộ Kế toán

Trung tâm Con người và Thiên nhiên hiện đang cần tuyển dụng 01 Cán bộ Kế toán, chi tiết cụ thể như sau:

Nội dung công việc
Vị trí tuyển dụng sẽ là nhân sự trực thuộc Phòng Hành chính – Kế toán của PanNature. Nhiệm vụ chính của chức danh này là chịu trách nhiệm tham gia triển khai, duy trì hệ thống tài chính và chế độ kế toán của tổ chức, đảm bảo thông tin chính xác, đầy đủ, ổn định, minh bạch và hiệu quả dưới dự quản lý trực tiếp của Trưởng phòng.

Nội dung công việc cụ thể xin tham khảo Bản mô tả công việc kèm theo.

Yêu cầu

  • Tốt nghiệp đại học chuyên ngành liên quan đến tài chính, kế toán hoặc các chuyên ngành có liên quan.
  • Có ít nhất 3-5 năm kinh nghiệm về công tác kế toán. Ưu tiên có kinh nghiệm làm việc trong các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và quốc tế.
  • Ưu tiên người có các chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán, chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế.
  • Có hiểu biết tốt về các quy định của chính phủ liên quan đến kế toán và quản lý tài chính của các tổ chức ngoài công lập.
  • Có năng lực, phẩm chất tốt đáp ứng công việc.
  • Sử dụng thành thạo các phần mềm văn phòng, phần mềm kế toán, MS Office Excel. Ưu tiên ứng viên có kinh nghiệm sử dụng phần mềm Intuit Quickbooks.
  • Kỹ năng tiếng Anh: đọc, viết tốt; nghe, nói căn bản.
  • Kỹ năng truyền đạt và giao tiếp tốt.
  • Cam kết làm việc lâu dài.

Quyền lợi:

  • Hưởng lương theo quy định trong thang lương của Trung tâm. Hưởng các chế độ công tác phí theo quy định của Trung tâm.
  • Thời hạn hợp đồng: ký hợp đồng hàng năm và có thể được chuyển sang chế độ hợp đồng không thời hạn.
  • Các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm tai nạn con người theo quy định của Trung tâm.

Hồ sơ bao gồm:

  • Đơn xin việc, trong đó nêu rõ mức lương đề nghị.
  • Sơ yếu lý lịch tự thuật nêu rõ các kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, quá trình đào tạo, sở thích, các bài báo khoa học, ấn phẩm đã xuất bản (nếu có).
  • Các văn bằng liên quan (scan hoặc photo không cần công chứng)

Ứng viên có thể gửi hồ sơ qua email. Trung tâm sẽ yêu cầu ứng viên nộp các hồ sơ cá nhân khác sau khi được tuyển dụng.

Hạn nộp hồ sơ: ngày 31/12/2013

Các ứng viên quan tâm xin nộp hồ sơ qua:
Chị Đỗ Thị Hồng Nhung
Trung tâm Con người và Thiên nhiên
Địa chỉ: 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa, đường Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: nhungdth@nature.org.vn
Điện thoại: (04) 3556 4001, máy lẻ: 101

Lưu ý: Hồ sơ có thể gửi chuyển phát nhanh qua đường bưu điện hoặc qua email. Không cần nộp hồ sơ gốc hoặc bản công chứng.   

Cần quy định rõ trách nhiệm trong quản lý thủy điện

Giới chuyên gia vừa có kiến nghị gửi Quốc hội về việc quy hoạch và quản lý thủy điện, trong đó cần quy định rõ trách nhiệm các bên trong quản lý, giám sát vận hành nhà máy trước bối cảnh thủy điện vẫn tiềm tàng rủi ro và thách thức.

Chiều 22/11, các tổ chức gồm Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Trung tâm Phát triển tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu, Trung tâm Hỗ trợ quản lý tổng hợp tài nguyên nước gửi bản kiến nghị cần thắt chặt quản lý với công tác xây dựng thủy điện; quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền của các bên liên quan như chủ đầu tư, cơ quan chủ quản, chính quyền các cấp trong quy trình quản lý và giám sát sự vận hành của nhà máy, đặc biệt trong khi tích nước và xả nước.

Không phủ nhận vai trò của thủy điện trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, nhưng các tổ chức trên đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng rà soát, loại bỏ các dự án không đảm bảo an toàn; xem xét đình chỉ việc xây dựng các dự án trong quy hoạch chưa có đánh giá đầy đủ về an toàn đập và chi phí môi trường – xã hội.

Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng yêu cầu tính toán và lượng hóa cụ thể những thiệt hại từ sự cố liên quan đến thủy điện, tạo cơ sở cho việc yêu cầu bồi thường, đảm bảo quyền lợi, sinh kế cho cộng đồng tái định cư và bị ảnh hưởng.

Kiến nghị trên xuất phát từ thực tế thủy điện đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sinh thái và xã hội. Một diện tích lớn đất rừng, nông nghiệp và đất khác bị chiếm dụng. Theo báo cáo của Bộ Công thương, từ năm 2006 đến 2012, Việt Nam chuyển đổi 50.000 ha đất rừng, nông nghiệp và đất khác làm thủy điện. Còn theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cũng trong giai đoạn này có 20.000 ha rừng vị “xóa sổ” bởi thủy điện.

Mới đây, Chính phủ loại 424 dự án thủy điện ra khỏi quy hoạch; không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng; tạm dừng có thời hạn 136 dự án và chỉ cho phép đầu tư sau năm 2015; tiếp tục rà soát, đánh giá 158 dự án. Như vậy, cả nước còn lại 815 dự án; 268 công trình thủy điện đang vận hành; 205 dự án đang thi công xây dựng và dự kiến khai thác từ nay đến 2017.

Ngoài ra, việc quản lý các dự án thủy điện vừa và nhỏ còn lỏng lẻo. Theo kết quả chương trình giám sát Quốc hội, có tới 30% thủy điện nhỏ chưa được kiểm định về mặt an toàn, 66% chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt và 55% số đập chưa có phương án phòng chống lụt bão.

mualu112013Lượng mưa tới 600 mm, hàng loạt các hồ thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đồng thời xả lũ được cho là nguyên nhân gây “đại hồng thủy” vượt đỉnh lịch sử vừa qua, khiến 40 người chết. Ảnh: Trí Tín.

Vấn đề an toàn và quản lý vận hành đập trở thành mối quan ngại lớn khi mới đây cùng với mưa lớn, hàng loạt các hồ thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đồng thời xả lũ với lưu lượng lớn gây nhiều thiệt hại về người và tài sản cho người dân vùng hạ lưu, kết quả sơ bộ có tới 40 người chết, nhiều người mất tích và hàng trăm ngôi nhà bị cuốn trôi.

Trước thực trạng xây dựng thủy điện tràn lan như hiện nay, một số đại biểu Quốc hội cũng cho rằng nên rà soát tổng thể, đánh giá mặt lợi, hại của các thủy điện để có giải pháp phù hợp, trong đó đề nghị loại bỏ thủy điện nhỏ. Đại biểu Nguyễn Thị Khá, đoàn Trà Vinh cho rằng, việc xây dựng thủy điện phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên chứ không phải lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế là điều kiện cần nhưng lợi ích về tính mạng, tài sản của người dân mới là quyết định.

“Chúng ta khai thác được một số điện nhưng hậu quả người dân gánh rất lớn, tác động xã hội rất lớn mà chúng ta không tính hết được”, đại biểu Khá nói.

Liên quan đến trận lụt tại miền Trung, đại biểu Khá cho rằng vấn đề xả lũ là trách nhiệm điều phối chung. “Điều tôi mong muốn các thủy điện có lịch trình, điều phối rõ. Nếu có nhiều thủy điện nhỏ trong cùng một dòng chảy thì phải có sự điều phối chung. Xả lũ để an toàn đập nhưng đảm bảo không ảnh hưởng nhiều đến người dân”, đại biểu Khá nói.

Trả lời về trách nhiệm bồi thường cho người dân vùng lũ lụt, vị đại biểu tỉnh Trà Vinh này cho rằng cần phân rõ trách nhiệm quản lý ngay từ đầu. Nếu nó thuộc ngành thì ngành chịu trách nhiệm chỉ  đạo, khắc phục, bồi thường hậu quả nhưng nếu thuộc địa phương thì địa phương chịu trách nhiệm.

“Phải phân rõ trách nhiệm thì mới được, chứ bây giờ Bộ đổ thừa cho địa phương, địa phương đổ Bộ; cuối cùng là người dân chịu thiệt thòi nhất. Tôi rất mong sau kỳ họp này Quốc hội có nghị quyết rõ ràng đánh giá một cách toàn diện về thủy điện: thủy điện nào phát huy hiệu quả, thủy điện nào ít, thiệt hại nhiều”, đại biểu Khá cho biết.

Nguồn: VnExpress

Nên dừng cấp phép xây dựng thủy điện vừa và nhỏ trong 3 năm tới

Việc Chính phủ loại bỏ 424 dự án thủy điện, chiếm 34,2%, trong tổng số 1.239 dự án sau quá trình rà soát quy hoạch phát triển thủy điện trên toàn quốc năm 2012 là quyết định cần thiết với những cân nhắc về lợi ích kinh tế và hệ lụy môi trường, xã hội.

Liệu đã đến lúc phải đặt ưu tiên cao nhất cho việc bảo đảm an ninh nguồn nước, bảo vệ rừng và coi đó là yêu cầu cấp thiết vì lợi ích lâu dài, tránh các tác động tiêu cực đối với đời sống cộng đồng và phát triển kinh tế – xã hội? Phóng viên Báo Hànộimới đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên – Pan Nature (Liên hiệp Các hội khoa học – kỹ thuật Việt Nam) về vấn đề này.

Lầm tưởng về năng lượng “sạch, rẻ”

– Được biết, PanNature và cá nhân ông đã có nhiều khảo sát, theo dõi về những tác động của các công trình thủy điện vừa và nhỏ (TĐVVN) trong nhiều năm. Đặc biệt, sau trận lũ lịch sử tại Nam Trung bộ vừa qua mà nguyên nhân không thể không kể đến là việc xả lũ từ các công trình thủy điện. Ông có nhận xét gì xung quanh câu chuyện phát triển thủy điện, đặc biệt là TĐVVN thời gian qua?

dthoaiÔng Nguyễn Việt Dũng.

– Phải khẳng định rằng từ năm 1990 đến nay, thủy điện là nguồn điện năng quan trọng. Đến năm 2012, thủy điện vẫn đóng góp 48,26% công suất và 43,9% điện lượng cho hệ thống điện toàn quốc. Theo tôi, phát triển thủy điện không có lỗi, vấn đề là những hệ lụy về môi trường, xã hội do thủy điện gây ra xuất phát từ những yếu kém trong công tác quy hoạch, đánh giá, cấp phép và giám sát xây dựng, vận hành ở nhiều địa phương và những hệ lụy này đã làm thay đổi nhận thức lâu nay rằng đây là nguồn năng lượng sạch và rẻ. Thực tế đến nay chúng ta vẫn chưa có được đánh giá đầy đủ để hiểu biết đúng về tác động của thủy điện, vì thế đã dẫn đến quy hoạch ồ ạt và phát triển thủy điện khá “nóng” trên toàn quốc.

Phải khẳng định rằng thủy điện không phải là nguồn năng lượng sạch và rẻ, vì chúng là tác nhân trực tiếp làm mất rừng, chiếm dụng nhiều đất rừng, kể cả rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn, từ đó tăng mức phát thải khí nhà kính, bồi cạn hồ chứa… Thủy điện đã gây xáo trộn đời sống của hàng trăm nghìn hộ gia đình do phải tái định cư, do ngập lụt bởi xả lũ; làm thay đổi dòng chảy của các hệ thống sông; phá hỏng cơ sở hạ tầng do Nhà nước đầu tư cho các vùng nông thôn, miền núi… Đặc biệt, trận lũ lịch sử ở Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định những ngày qua cho thấy thủy điện đã góp phần dẫn đến những thiệt hại nặng nề. Như vậy, giá thành 1kWh từ thủy điện có thể rẻ hơn các nguồn năng lượng khác nhưng những chi phí do tổn hại môi trường, xã hội và sinh kế của người dân thì vẫn chưa được tính. Thiệt hại này, do xả lũ và sự cố an toàn đập có thể lớn hơn nhiều so với mức đóng góp hằng năm cho ngân sách của chính các nhà máy thủy điện đó.

Theo báo cáo của Bộ Công thương, từ năm 2006 đến nay chúng ta đã phải đánh đổi 50.000ha đất rừng để làm thủy điện. Bộ NN&PTNT cũng cho biết, 20.000ha rừng đã bị xóa sổ bởi các dự án thủy điện trong giai đoạn 2006-2012. Tuy nhiên, tôi cho rằng con số này cần phải xem xét lại vì những nghiên cứu diện hẹp tại Hà Tĩnh, Quảng Nam, Lâm Đồng và Kon Tum cho thấy, diện tích rừng bị chặt hạ có thể nhiều hơn mức cho phép, không kể các diện tích lấn chiếm và phá rừng trái phép ở các khu tái định cư và xâm lấn khai thác khác. Khả năng bảo đảm an toàn đập và quản lý vận hành hồ chứa không gây hại cũng chưa đủ độ tin cậy và cần phải được Nhà nước xem xét lại, đánh giá và giám sát nghiêm túc, chặt chẽ. Tóm lại, chúng ta đang phải gánh chịu hậu quả do phát triển “nóng” TĐVVN.

– Phát triển ồ ạt các dự án TĐVVN đã được các nhà khoa học cảnh báo về hệ lụy nhưng vì sao chúng vẫn được triển khai rầm rộ?

– Điều tôi muốn nhấn mạnh là nguy cơ phá rừng tăng lên rất nhiều khi phát triển TĐVVN. Vì hồ thủy điện dâng nước đến đâu lại tạo điều kiện đi lại, vận chuyển gỗ dễ dàng hơn cho lâm tặc đến đó, nhất là các rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng của các khu bảo tồn. Có người cho rằng các dự án thủy điện giúp bảo vệ rừng tốt hơn, theo tôi đây là một luận điểm không tưởng trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, nguy cơ này ít khi được đánh giá và thẩm định nghiêm túc ở cấp địa phương, nên báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án thủy điện đều dễ dàng được thông qua. Nghĩa là các nhà đầu tư không bị ngăn chặn hoặc có thể “dỡ bỏ” rào cản này để triển khai dự án.

Cần nhắc thêm rằng, mỗi một dòng sông là một hệ sinh thái thống nhất, hoàn chỉnh, không phụ thuộc vào việc phân định theo địa giới hành chính. Tuy nhiên, việc phân quyền quy hoạch cho các địa phương như hiện nay đã dẫn đến sự phát triển “nóng”, dày đặc TĐVVN, để lại hậu quả là sự tàn phá các lưu vực sông, ngăn chặn dòng chảy tự nhiên xuống hạ lưu. Thời gian qua nhiều địa phương đã chạy theo thành tích tăng đầu tư phát triển và thu ngân sách nên đã chấp thuận nhiều dự án xét về lâu dài thì số tiền thu được ít hơn nhiều lần so với số tiền bỏ ra để ngăn ngừa hậu quả và khắc phục rủi ro. Trong khi đó, lợi ích lại hoàn toàn rơi vào túi doanh nghiệp và người dân bị thiệt hại là điều chắc chắn thấy được. Ngược lại, thực tế này cũng cho thấy sự yếu kém của các bên có lợi ích bị ảnh hưởng như cộng đồng, chính quyền địa phương, các chủ rừng chưa thực sự dám phản đối hoặc tham mưu quyết liệt để cấp có thẩm quyền ngăn chặn các dự án có nhiều rủi ro.

Sớm công khai kinh phí đền bù trồng lại rừng

– Theo quy định, khi xây dựng thủy điện chủ đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trồng bù lại rừng hoặc phải nộp tiền trồng bù rừng tương đương với diện tích rừng họ chiếm dụng và chuyển đổi. Ông có thông tin nào về vấn đề này hay không?

– Việc chuyển đổi rừng trồng sang làm thủy điện đã được đề cập tại Nghị định 23, và điều 10 Nghị định 05/2008/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó quy định Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (cấp tỉnh) được thành lập do các địa phương trực tiếp quản lý và có nhiệm vụ tiếp nhận tiền chi trả đền bù trồng rừng của các chủ đầu tư thủy điện nếu địa phương chưa bố trí được đất trồng. Báo cáo của Bộ Công thương và Bộ NN&PTNT đã cho thấy, diện tích trồng bù này đạt tỷ lệ rất thấp so với diện tích rừng đã mất. Điều này bộc lộ hai vấn đề: Một là giải pháp bảo vệ môi trường theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được tỉnh phê duyệt thiếu thực tế hoặc không được tuân thủ nghiêm túc xét từ trách nhiệm chỉ đạo của chính quyền địa phương; hai là các chủ đầu tư xây dựng các dự án thủy điện không thực sự quan tâm tới việc trồng hoàn rừng. Tôi cho rằng, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo rà soát, kiểm tra để biết rõ nguồn chi trả trồng bù rừng của các chủ đầu tư thủy điện hiện đang được quản lý và sử dụng như thế nào để có giải pháp thích hợp, ít nhất là phải hoàn đủ diện tích rừng đã bị chuyển đổi mục đích.

– Vậy việc trồng lại rừng tại các dự án thủy điện đến nay ra sao, thưa ông?

– Cá nhân tôi và PanNature chưa có nghiên cứu tổng thể về công tác trồng lại rừng từ các dự án thủy điện nhưng con số được công bố hiện là chưa đến 3% so với diện tích rừng bị mất đi. Diện tích rừng được trồng lại quá ít thì các doanh nghiệp thủy điện cho rằng địa phương sở tại không bố trí được quỹ đất. Tạm thời tin vào nguyên nhân này thì cũng sẽ đặt ra yêu cầu cần công khai kết quả ký quỹ đền bù và chi tiêu nguồn kinh phí này như đã nói ở trên. Lưu ý rằng nguồn ký quỹ này khác với nguồn tiền đóng góp bảo vệ rừng mà một số nhà máy thủy điện đang vận hành chi trả theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

– Khi thiết kế thủy điện, hầu hết chủ đầu tư đều có cam kết là chúng có khả năng cắt lũ nhưng hệ lụy của chúng để lại đến nay đã quá rõ. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

– Xét tổng thể, theo quy hoạch trước khi rà soát, trong tổng số dung tích phòng lũ của hệ thống thủy điện Việt Nam đạt khoảng 10,5 tỷ mét khối thì đã có 10 tỷ mét khối thuộc về 130 dự án thủy điện vừa và lớn (>30MW), còn lại là hầu hết thủy điện nhỏ (<30MW) với hơn 1.100 dự án chỉ có dung tích hữu ích nhỏ khoảng 0,5 tỷ mét khối. Với số liệu này, việc gán cho hệ thống thủy điện nhỏ chức năng cắt, giảm lũ vùng hạ lưu là không đáng tin cậy. Trong nhiều trường hợp, các công trình thủy điện nhỏ còn làm cho tình trạng ngập lụt cục bộ trở nên trầm trọng hơn. Hậu quả xả lũ mà các thủy điện ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Gia Lai và Kon Tum gây ra trong thời gian vừa qua là một bằng chứng. Vì vậy, Chính phủ cần tiếp tục xem xét loại bỏ khỏi quy hoạch đối với các dự án có nguy cơ gây tổn thương cao do xả lũ, đặc biệt là các công trình ở những nơi có địa hình dốc và ngắn như khu vực miền Trung.

Cần xem lại vai trò của các tổ chức tài chính

– Việc xây dựng thủy điện luôn cần một số tiền rất lớn và không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng đáp ứng 100% vốn. Vậy nếu như trong quy trình xét duyệt vốn cho vay, Nhà nước có nên yêu cầu các tổ chức tài chính đặt lên “bàn cân”, lượng hóa được lợi ích môi trường, lợi ích xã hội để cấp vốn, giảm thiểu những tác động xấu hay không?

– Đúng vậy! Chúng ta đang thiếu cơ chế này, trong khi nhiều tổ chức tài chính quốc tế uy tín trên thế giới đã thực hiện quy định này, được gọi là các chính sách bảo đảm an toàn, trong quy trình đánh giá và quyết định cho vay vốn cho các doanh nghiệp xây dựng thủy điện. Họ làm vậy để tránh rủi ro về tài chính, rủi ro về uy tín khi có bất trắc xảy ra.

Gần đây, chúng tôi có nghiên cứu về thể chế của quá trình quy hoạch và ra quyết định phát triển thủy điện ở các địa phương nhằm xem xét vai trò của các bên liên quan. Kết quả xếp theo mức độ quan trọng là: UBND tỉnh, công ty tư vấn, nhà đầu tư và ngân hàng. Thường thì khi xây dựng một công trình thủy điện, nhà đầu tư chỉ có 30% vốn và số tiền còn lại là đi vay. Rõ ràng, tiếng nói của các ngân hàng trong vấn đề này rất quan trọng. Tuy nhiên, khi tham vấn hơn 10 ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam thì kết quả cho thấy họ rất ít quan tâm và không tham gia vào quá trình đánh giá rủi ro, đánh giá tác động môi trường – xã hội của các dự án phát triển như thủy điện. Họ cũng không quan tâm đến việc lượng hóa các lợi ích kinh tế và so sánh với các phí tổn về môi trường và xã hội để cân nhắc rủi ro tín dụng. Theo tôi đây là điều đáng tiếc và cần được xem xét lại, xét cả về khía cạnh quy định pháp luật của Nhà nước cũng như nhận thức về trách nhiệm xã hội – môi trường của các ngân hàng liên quan.

– Thưa ông, chúng ta đã nói quá nhiều đến mặt trái của các công trình TĐVVN. Chẳng lẽ trong số hàng trăm công trình như vậy không có “điểm sáng” nào để rút kinh nghiệm, nhân rộng mô hình hay sao?

– Tôi chưa có điều kiện đi nhiều nhưng qua báo chí được biết công trình thủy điện Krông Hin, huyện M’Đrắk, Đắk Lắk của ông Nguyễn Quyền là điểm sáng cho mô hình “thủy điện xanh”. Đây không chỉ là nhà máy thủy điện tư nhân duy nhất làm ăn đạt hiệu quả kinh tế cao, Krông Hin còn được đánh giá là một trong số ít các thủy điện thân thiện với môi trường, mang lại hiệu quả an sinh xã hội cao. Trong tổng số 59ha đất được giao để xây dựng thủy điện Krông Hin, chỉ có 5ha cà phê, còn lại hầu hết đều là đất trống đồi núi trọc; không có hộ dân nào bị ảnh hưởng, phải di dời, tái định cư, định canh. Nhờ vậy, thủy điện Krông Hin vừa giảm thiểu được tác động tiêu cực vào môi trường, vừa tiết kiệm được chi phí đầu tư. Ông Nguyễn Quyền cũng chỉ sử dụng chưa đến 40ha trong tổng số đất được giao. Đặc biệt, dù không tác động lớn đến môi trường rừng, nhưng từ khi đi vào vận hành đến nay, thủy điện Krông Hin đã thực hiện trồng hơn 32ha rừng. Nhờ nguồn nước của thủy điện, hơn 250ha cà phê và 50ha lúa nước của đồng bào hai xã Ea M’đoan và Cư Króa được phục vụ nước tưới miễn phí; cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất thường xuyên cho hàng trăm hộ dân quanh vùng.

– Xin hỏi ông câu hỏi cuối, đó là chúng ta rất khó để phá bỏ các công trình thủy điện đã có, vậy theo ông làm thế nào để có thể giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra?

– Theo tôi, có hai vấn đề chiến lược về ngắn hạn và dài hạn cần phải thực hiện. Về ngắn hạn: Cần đánh giá lại thiệt hại do thủy điện gây ra, đặc biệt là ở khu vực miền Trung. Chúng ta phải siết lại quy trình xả lũ ngay lập tức để xem còn lỗ hổng gì không vì từ nay đến mùa mưa bão sang năm chỉ còn khoảng 10 tháng; xem lại toàn bộ yêu cầu thông báo, công khai quy trình vận hành hồ chứa và xả lũ của từng nhà máy đối với chính quyền và cộng đồng địa phương. Đối với vùng hạ lưu trước thân đập thủy điện, cần cắm mốc đo lũ để nhân dân biết và tổ chức diễn tập, hướng dẫn để nhân dân có kỹ năng xử lý, phòng tránh khi lũ lụt xảy ra. Các cơ quan quản lý cũng cần xem xét lại trách nhiệm của các doanh nghiệp thủy điện khi xả lũ thông qua cơ chế đền bù cho các hộ bị thiệt hại, kể cả cơ chế để người dân có thể khiếu kiện khi lợi ích của họ bị tổn hại do lỗi của các nhà máy thủy điện gây ra.

Về lâu dài, Nhà nước cần tiếp tục đánh giá lại hơn 800 dự án thủy điện sau khi điều chỉnh quy hoạch đồng thời với việc kiểm tra lại toàn bộ tính an toàn của các hồ, đập. Quan điểm của tôi là nên tạm dừng tất cả các dự án TĐVVN đã quy hoạch nhưng chưa được cấp phép trong thời gian 3-5 năm để đánh giá lại môi trường chiến lược trên các lưu vực sông. Yêu cầu quy hoạch lại vì vậy phải dựa trên kết quả đánh giá môi trường chiến lược cho từng lưu vực và áp dụng quy hoạch phát triển tổng hợp lưu vực sông để có các lựa chọn dự án và quy mô phù hợp, công bằng về sử dụng nước, đáp ứng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Quyết định loại bỏ các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi quy hoạch thời gian vừa qua là một ví dụ cho thấy sự cần thiết phải công khai thông tin, tham vấn rộng rãi nhiều bên liên quan để có thể đánh giá đúng và toàn diện về tác động môi trường, xã hội của thủy điện. Qua đó cũng đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tuân thủ pháp luật của chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Trong thời gian tới, cách tiếp cận này cần được thể chế hóa cụ thể, đi đôi với việc tiếp tục công khai thông tin, rà soát và cân nhắc lại các quy hoạch thủy điện.

– Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Nguồn: Báo Hà Nội Mới

Kiến nghị về việc quy hoạch và quản lý các dự án thủy điện Việt Nam

Kính gửi: Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Chúng tôi, các tổ chức sau đây, gồm Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN) , Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Trung tâm Phát triển Tài nguyên nước và Thích nghi Biến đổi khí hậu (CEWAREC), và Trung tâm Hỗ trợ Quản lý Tổng hợp Tài nguyên nước (CIWAREM), cùng hoạt động vì mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, cùng chia sẻ mối quan tâm về tác động xã hội, môi trường mà các dự án thủy điện đã và đang gây ra. Chúng tôi có một số kiến nghị gửi đến quý đại biểu quốc hội về vấn đề quy hoạch và quản lý các dự án thủy điện của Việt Nam như sau:

Thông tin cơ sở để kiến nghị:

Với mạng lưới sông ngòi tương đối dày và điều kiện địa hình thuận lợi, Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có tiềm năng về thủy điện. Trong hơn 20 năm qua, nguồn tiềm năng này đã được khai thác mạnh mẽ phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hiện nay, Việt Nam có 268 công trình thủy điện lớn vừa và nhỏ đã đi vào vận hành, 205 dự án đang được xây dựng và hàng ngàn hồ chứa đã được quy hoạch.

Không thể phủ nhận trong nhiều năm qua, thủy điện đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của quốc gia. Theo số liệu của EVN, thủy điện hiện  đóng góp 45,17% tổng sản lượng điện của mạng lưới  điện toàn quốc.

Tuy nhiên, bên cạnh một số đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, việc phát triển thủy điện quá nhanh và nóng đã  bộc lộ nhiều  bất cập. Thủy điện đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, sinh thái, và xã hội. Một diện tích khá lớn đất rừng, đất nông nghiệp và các loại đất khác đã bị chiếm dụng vĩnh viễn bởi các công trình này. Theo báo cáo của Bộ Công thương, từ năm 2006 đến 2012, Việt Nam đã chuyển  đổi 50.000 ha đất rừng, đất nông nghiệp và các loại đất khác để làm thủy điện. Còn theo báo cáo của Bộ NN & PTNT, cũng trong giai đoạn này, đã có 20.000 ha rừng bị “xóa sổ” bởi thủy điện. Thủy điện làm thay đổi dòng chảy tự nhiên, cả trong mùa lũ và mùa kiệt, làm giảm đáng kể lượng phù sa xuống hạ lưu. Di dân, tái định cư ở các dự án thủy điện, tùy quy mô dân số và đặc điểm văn hóa bản địa ở mức độ khác nhau có thể gây nhiều xáo trộn trong đời sống cộng đồng. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT đối với 21 dự án thủy điện ở 12 tỉnh, hơn 75.000 hộ dân phải di dời phục vụ việc xây dựng công trình thủy điện và chịu ảnh hưởng sâu sắc về mặt sinh kế và đời sống (Báo cáo số 1483/BC-BNN-KTHT ngày 06/05/2013). Ngoài ra, công tác quản lý các dự án thủy điện vừa và nhỏ còn nhiều lỏng lẻo. Theo kết quả chương trình giám sát Quốc hội, có tới 30% thủy điện nhỏ chưa được kiểm định về mặt an toàn, 66% chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt và 55% số đập chưa có phương án phòng chống lụt bão. Hơn nữa, hàng loạt các sự cố như vỡ đập ở Gia Lai, nứt thân đập ở Quảng Nam hay xả lũ ở Miền Trung và Tây Nguyên trong thời gian qua gây ra những mối quan ngại lớn về vấn đề an toàn và quản lý vận hành đập. Trong tháng 11/2013, cùng với mưa lớn, hàng loạt các hồ thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đã đồng thời xả lũ với lưu lượng lớn gây nhiều thiệt hại về người và tài sản cho người dân vùng hạ du. Theo thống kê sơ bộ tại miền Trung, có tới 31 người bị chết, 9 người mất tích và 225 ngôi nhà bị cuốn trôi trong đợt lũ vừa qua.

thuydien112013Ảnh minh họa: PanNature.

Trước thực trạng trên, việc Chính phủ loại 424 dự án thủy điện, chiếm tới 34,2% trong tổng số 1239 dự án, ra khỏi quy hoạch sau quá trình rà soát  là một quyết định cần thiết. Tuy nhiên, các sự cố liên quan đến thủy điện gần đây cho thấy thủy điện vẫn tiềm tàng nhiều rủi ro và thách thức.

Các kiến nghị:

Trước bối cảnh trên cùng với một số kết quả nghiên cứu hiện có, chúng tôi có một số kiến nghị cụ thể về vấn đề phát triển thủy điện như sau:

1. Thắt chặt việc quản lý đối với công tác xây dựng thủy điện: Thực trạng trong thời gian qua cho thấy cần thắt chặt hơn nữa công tác quản lý và thực hiện quy hoạch cũng như đối với tất cả các dự án thủy điện đang vận hành. Các cơ quan quản lý cần khẩn trương, nghiêm túc đánh giá toàn diện quy trình vận hành của các công trình thủy điện đơn lẻ cũng như các công trình bậc thang, vấn đề an toàn đập, an toàn hạ lưu.

2. Quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền của các bên liên quan: cần quy định rõ ràng trách nhiệm của từng bên (chủ đầu tư, cơ quan chủ quản, chính quyền các cấp) trong quá trình quản lý và giám sát sự vận hành của nhà máy, đặc biệt trong khi tích nước và xả nước.

3. Tiếp tục rà soát quy hoạch phát triển thủy điện: Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan chức năng gồm Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các bên liên quan tiếp tục rà soát, loại bỏ các dự án không đảm bảo an toàn. Trong thời gian này, tạm thời đình chỉ các dự án đã được cấp phép nhưng đang có những vấn đề tác động chưa được làm rõ, đặc biệt là các dự án ở vùng miền Trung và Tây Nguyên nhằm đảm bảo an ninh môi trường và an toàn cho các cộng đồng ở khu vực hạ lưu. Ngoài ra, Chính phủ cần xem xét đình chỉ việc xây dựng các dự án trong quy hoạch chưa có đánh giá đầy đủ về an toàn đập và chi phí môi trường – xã hội.

4. Thực hiện các đánh giá thiệt hại liên quan đến thủy điện: Hàng loạt những sự cố gần đây cho thấy cần mối tương quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí môi trường – xã hội cần được nghiên cứu để tạo cơ sở cho công tác xây dựng quy hoạch phát triển. Ngoài ra, các thiệt hại từ các sự cố liên quan đến thủy điện cần tính toán và lượng hóa một cách cụ thể thể để tạo cơ sở cho việc yêu cầu bồi thường và đảm bảo quyền lợi , sinh kế cho của cộng đồng dân cư bị tái định cư và bị ảnh hưởng.

5. Thực hiện nghiêm công tác ĐMC đối với các quy hoạch thủy điện các lưu vực sông: Nghị định số 29/2011/NĐ-CP đã quy định về việc đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) đối với quy hoạch thủy điện cấp quốc gia. Chính phủ cần ưu tiên thực hiện ĐMC cho các kế hoạch phát triển thủy điện trong từng lưu vực sông để xem xét các vấn đề liên quan như môi trường, xã hội và tính phù hợp đối với các quy hoạch phát triển hay kế hoạch bảo tồn thiên nhiên khác trước khi cho phép chuyển sang giai đoạn sau.

6. Ngoài ra, việc cho phép cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư phát triển thủy điện trên các lưu vực sông liên quốc gia chung với Việt Nam (Mê Công, Hồng, Mã, Cả…) cũng như việc phát triển thủy điện của các nước trong khu vực (Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia) có ảnh hưởng tới Việt Nam cũng cần được nghiên cứu, xem xét đầy đủ.

Rất mong Quốc hội và các cơ quan chức năng xem xét các kiến nghị trên để đảm bảo an toàn cho cộng đồng, quyền lợi của nhân dân, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao tính bền vững trong các chương trình phát triển nói chung và thủy điện nói riêng.

Xin trân trọng cảm ơn!

File Bản Kiến nghị chính thức >> (PDF)

 

Bản tin Chính sách Quý III/2013

Trung tâm Con người và Thiên nhiên xin giới thiệu với quý vị độc giả Bản tin Chính sách về tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững số 11, Quý III/2013.

btcsq32013

Các nội dung chính của Bản tin kỳ này:

  • Cần tiếp tục rà soát các dự án thủy điện
  • Thủy điện Don Sahong tác động nghiêm trọng đến ngành thủy sản khu vực
  • Phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp
  • Hướng dẫn thực hiện chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng
  • Phê duyệt danh mục Chương trình UN-REDD giai đoạn II
  • Góp ý hoàn thiện hai đề án về quản lý rừng tự nhiên và nâng cao hiệu lực kiểm lâm
  • Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm
  • Tổng kết, đánh gia công tác giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp
  • Tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
  • Phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
  • Kiện toàn Ban chỉ đạo liên ngành về kiểm soát buôn bán động, thực vật hoang dã
  • Phê duyệt Chiến lược khai tác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển
  • Lập đoàn kiểm tra công tác bảo đảm an toàn các hồ chứa nước
  • Kế hoạch và biện pháp phòng ngừa sự cố hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp
  • Phê duyệt Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản
  • Bổ sung Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác và chế biến một số loại khoáng sản
  • Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan
  • Quy định mới về xuất khẩu than
  • Hà Nội ban hành quy điịnh về quản lý hoạt động khoáng sản
  • Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
  • Phê duyệt nhiệm vụ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
  • Danh mục văn bản pháp luật ban hành trong Quý III/2013
  • Các dự thảo chính sách đang xây dựng

Đọc Bản tin trực tiếp:

Tải toàn văn Bản tin Chính sách Quý III/2013 (File PDF, 5.99 MB)
Các Bản tin Chính sách khác

Bộ Tiêu chuẩn EITI 2013

EITI đã trải qua hơn 10 năm phát triển kể từ khi Hội nghị EITI tổ chức lần đầu tiên vào năm 2003 mà tại đó các nguyên tắc EITI đã được thống nhất. Những nguyên tắc này, là nền tảng của EITI hiện nay, đã nêu rõ mọi người dân trong mỗi quốc gia đều có quyền  hưởng lợi từ sự giàu có của tài nguyên thiên nhiên và điều này sẽ đòi hỏi những tiêu chuẩn rất cao về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Sau khi các nguyên tắc được thông qua, các quy định đã được soạn thảo để đảm bảo rằng tất cả các quốc gia thành viên EITI sẽ phải cam kết một mức độ tối thiểu về tính minh bạch trong báo cáo của công ty về các khoản chi trả và báo cáo của chính phủ về các nguồn thu.

Bộ Tiêu chuẩn EITI mới giữ lại phần lớn các yêu cầu của Bộ Quy tắc EITI trước đây nhưng được sắp xếp lại thành hệ thống ít yêu cầu hơn với những kỳ vọng rõ ràng hơn. Nguyên tắc chủ đạo cho lần sửa đổi này là EITI phải khuyến khích quyền sở hữu của các quốc gia thành viên đối với những nỗ lực cải cách nhằm phục vụ tốt hơn lợi ích của người dân. Các yêu cầu về kế hoạch thực hiện EITI quốc gia được thiết kế để đảm bảo rằng báo cáo EITI phản ánh các ưu tiên và mục tiêu cải cách của các quốc gia thành viên. Để các báo cáo EITI dễ hiểu và dễ sử dụng hơn, chúng tôi giới thiệu một bộ các yêu cầu mới đòi hỏi các báo cáo phải bao gồm thông tin cơ bản về định chế tài chính, khuôn khổ hợp đồng, sản xuất, thủ tục cấp phép, phân bổ nguồn thu và chi tiêu.

Bản dịch tiếng Việt do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) thực hiện. Các lỗi, sai sót về mặt ngôn ngữ và nội dung tiếng Việt, nếu có, thuộc trách nhiệm của PanNature.

Đọc ấn phẩm trực tuyến:

Tải tài liệu (File PDF)
Bộ Tiêu chuẩn – Nhiều ngôn ngữ (Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nga, Ả Rập, Bồ Đào Nha)

Chỉ dẫn về các loài thông ở vùng núi Mai Châu – Mộc Châu, tỉnh Hòa Bình và Sơn La

Khu vực vùng núi giáp ranh giữa hai tỉnh Sơn La và Hòa Bình từ lâu được biết đến là một vùng khí hậu mát mẻ quanh năm với những cách rừng già trên các ngọn núi đá, núi đất tươi đẹp và những bản làng người dân tộc Mông thoáng ẩn thoáng hiện sau những vườn mận, vườn đào hoa trắng hoa hồng những ngày đầu xuân. Khí hậu á nhiệt đới và địa hình địa chất riêng biệt này mà ở đây đã sản sinh ra một hệ thực vật rất đa dạng và độc đáo. Trong hệ thực vật ở đây không thể không nói tới những loài tùng, loài bách, loài thông phong phú và quí hiếm ở đây.

Cuốn sách này được biên soạn nhằm cung cấp những thông tin cụ thể và cập nhật nhất cho những loài cây gỗ thuộc lớp Thông (Pinopsida), gọi chung là cây lá kim, của hệ thực vật vùng núi giáp ranh giữa 2 tỉnh Hòa Bình – Sơn La (2 huyện Mai Châu và Mộc Châu). Toàn bộ các thông tin, mô tả, phân bố, sinh cảnh tự nhiên, hiện trạng bảo tồn và hình ảnh trong tài liệu này được thu thập từ hoạt động hiện trường thực tế tại khu vực.

pine-book-cover

Ở vùng núi Mai Châu – Mộc Châu có ít nhất là 12 loài cây của lớp Thông đã được biết có trong rừng tự nhiên. Những loài cây này sinh sống trong những khoảng rừng nguyên sinh của 2 khu BTTN Hang Kia – Pà Cò và Xuân Nha, hoặc trên các dải núi đá vôi của huyện Mộc Châu men theo quốc lộ số 6. Dọc theo các đường dông núi đá vôi này ở độ cao 1.200 – 1.500 m là sinh cảnh đặc trưng rừng hỗn giao á nhiệt đới vùng núi với loài cây ưu thế chính là Thông pà cò (Pinus kwangtungensis). Xen lẫn ở tầng tán trên là các loài Pơ mu (Fokienia hodginsii) hoặc Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris). Rải rác ở tầng tán dưới hoặc ở những dông núi có độ cao thấp hơn bắt gặp Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgerii) hay hiếm hơn là Dẻ tùng sọc hẹp (Amentotaxus argoteania).

Trên các khu vực núi đất có đá mẹ sa phiến thạch hoặc đá silic các loài cây lá kim còn mọc trong các khoảng rừng lá rộng thường xanh ở độ cao 900 – 1.200 m. Thường gặp nhất ở đây là loài Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) hay Du sam núi đất (Keteleeria evelyniana). Đặc biệt ở khu BTTN Xuân Nha còn phát hiện một quần thể thuần của một loài thông năm lá mới. Loài thông mới có các đặc điểm gần nhất với loài Thông trắng Trung Quốc (Pinus armandii) nhưng cũng có những đặc điểm khác biệt đáng kể so với thứ chuẩn của loài này. Ngoài ra ở sát chân đỉnh núi Pha Luông bên phía sườn Tây của khu bảo tồn này còn gặp một quần xã cây lá kim độc đáo gồm các loài Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Dẻ tùng sọc hẹp (Amentotaxus argoteania) và Dẻ tùng sọc rộng (Amentotaxus yunnanensis).

Có lẽ hiếm có một khu vực nào mà trong một phạm vi hẹp lại có mức độ đa dạng cao như vậy đối với cây lá kim. Các loài cây lá kim này không chỉ là nguồn gen hiếm của nước ta mà còn là những loài cây cho gỗ, làm thuốc chữa bệnh có giá trị. Bởi vậy phần lớn các loài cây lá kim này là đối tượng quan trọng được quan tâm bảo vệ trong 2 khu bảo tồn ở đây.

Những quần thể các loài cây lá kim ở Hòa Bình – Sơn La còn lại với số lượng cá thể ít, bị chia cắt mạnh do địa hình và do những cánh rừng nguyên sinh liền dải trước đây đã bị khai phá. Phần lớn các loài cây lá kim này có quá trình sinh sản, tái sinh khá đặc biệt, với những yêu cầu riêng về điều kiện sinh thái nên khả năng tái sinh của chúng trong tự nhiên rất hạn chế. Một số loài bị khai thác mạnh lấy gỗ hay làm cảnh làm cho số lượng và phân bố của chúng bị suy giảm nghiêm trọng. Khu vực này cũng là nơi có đông người dân tộc Mông sinh sống, việc phát nương làm rẫy, khai thác gỗ củi vẫn diễn ra hàng ngày, làm thu hẹp sinh cảnh sống của các loài cây lá kim ở đây, đặt nhiều loài cây vào mức độ đe dọa cao.

Bảo tồn các loài cây lá kim là bảo tồn nguồn gen độc đáo và đặc trưng nhất của hệ thực vật rừng tại Hòa Bình – Sơn La. Những thông tin về hiện trạng và các mối đe dọa tới quần thể cây lá kim được nêu trong Chỉ dẫn này là dựa trên các kết quả điều tra khảo sát tại khu vực, căn cứ theo phương pháp đánh giá hiện trạng bảo tồn của IUCN (2011). Hiện trạng bảo tồn quốc tế của các loài được nêu cũng lấy theo IUCN. Hiện trạng quốc gia căn cứ vào tài liệu cập nhật nhất cho các loài Thông Việt Nam năm 2004 – 2005.

Hoạt động bảo tồn cần được tiến hành cả tại nơi sinh sống của cây cũng như cần tìm kiếm và thực hiện nhân giống các loài này trong điều kiện nuôi trồng. Phương pháp nhân giống thích hợp cho cây lá kim ở đây tùy theo từng loài, nhưng đều đã được thử nghiệm khá thành công. Có thể thu hái hạt từ các nón quả Thông vào vụ quả chín, lấy hạt và gieo tạo cây con. Các loài cây lá kim họ Hoàng đàn, Kim giao hay Thông đỏ đều khá dễ dàng nhân tạo cây con bằng cách giâm các cành ngọn cây vào đúng mùa cây ngừng sinh trưởng. Một số hướng dẫn cụ thể về cách nhân giống hiệu quả cho từng loài cây lá kim ở khu vực được nêu trong Chỉ dẫn này.

Cuốn Chỉ dẫn này là một đóng góp nhỏ vào hiểu biết về các loài Thông ở một phần rừng đặc trưng của vùng Tây Bắc. Hy vọng là những thông tin thu thập được từ thực tế sẽ giúp ích cho các cán bộ lâm nghiệp và người dân địa phương trong việc bảo tồn và sử dụng tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên độc đáo ở tại đây cũng như các vùng khác có điều kiện tự nhiên tương tự.

 Đọc sách trực tuyến:

Tải ấn bản điện tử (File PDF, 5.38 MB)

Bài giới thiệu sách và hình ảnh trên ThienNhien.Net

 

Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa,
Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 | Fax: 024 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn