Posts by Web Editor

Bản đồ các điểm bán xăng sinh học trên toàn quốc

Bản đồ các cửa hàng bán xăng sinh học (xăng E5) của PV OIL trên toàn quốc. Xin cảm ơn PV OIL đã cung cấp thông tin.


Xem Các điểm bán xăng E5 của PV OIL ở bản đồ lớn hơn

Ghi chú: Bản đồ này nhằm cung cấp thông tin về xăng sinh học cho độc giả quan tâm. PanNature không có quan hệ và quyền lợi liên quan đến PV OIL.

Bản tin Chính sách Quý II/2013

Trung tâm Con người và Thiên nhiên xin giới thiệu với quý vị độc giả Bản tin Chính sách về tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững số 10, Quý II/2013.

btcs-cover-092013

Các nội dung chính của Bản tin kỳ này:

  • Bất cập chính sách và thực tiễn của ĐTM ở Việt Nam
  • Thiếu minh bạch ngành khai khoáng cản trở sự phát triển
  • Hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện bảo vệ, phát triển rừng
  • Kết quả, tồn tại và bất cập trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thủy điện
  • Dự thảo Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
  • Danh mục văn bản pháp luật ban hành trong Quý II/2013
  • Các dự thảo chính sách đang xây dựng

Đọc Bản tin trực tiếp:

Tải toàn văn Bản tin Chính sách Quý II/2013 (File PDF, 5.45 MB)
Các Bản tin Chính sách khác

“Ăn quỵt môi trường là kiểu tham nhũng nghiêm trọng”

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một công cụ đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Mục tiêu của ĐTM là nhằm đảm bảo cơ quan thẩm quyền xem xét đầy đủ các yếu tố môi trường và xã hội trước khi ra quyết định với các dự án phát triển. Tuy nhiên, ở nước ta, từ trước tới nay vẫn thông tin định tính, thông tin không hiệu quả, thành ra môi trường vẫn bị “ăn quỵt.”

Tại buổi Tọa đàm “Tiếp cận quyền và sự tham gia của các bên liên quan trong đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam,” do Trung tâm con người và Thiên nhiên phối hợp với Diễn đàn các nhà báo môi trường tổ chức sáng nay (20/9), giáo sư Võ khẳng định: “Trong khi ĐTM chưa thể trở thành ‘cây đũa thần,” thì tình trạng ‘ăn quỵt’ môi trường là một kiểu tham nhũng rất nghiêm trọng.”

toadam-dtmẢnh: PanNature.

Chứng minh cho nhận định trên, giáo sư Võ liệt kê một số dự án đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trong tới môi trường, tài nguyên thiên nhiên và vi phạm Luật Di sản như: Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A; hay mới nhất là vụ Công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái chôn thuốc trừ sâu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, sức khỏe và tính mạng của người dân trên địa bàn xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa).

“Từ vụ chôn thuốc trừ sâu tại Thanh Hóa, có thể thấy ĐTM chưa đóng góp gì nhiều so với thực tế ô nhiễm mà người dân đã và đang phải gánh chịu. Đáng buồn hơn, vụ việc này đã được người dân phát hiện và phản ánh gần chục năm trời, nhưng họ chỉ nhận được nỗi lo và sự thất vọng. Và cho tới lúc không thể chịu đựng, họ phải tự tay đào ‘mầm bệnh’ lên, để cơ quan chức năng đặt tên là làng ung thư,” giáo sư Võ phân bua.

Qua thực tế trên, giáo sư Võ cho rằng đã đến lúc ĐTM cần có sự thay đổi trong cách đánh giá, trở thành công cụ quản lý môi trường, đảm bảo công bằng và quyền lợi cho người yếu thế. Theo đó, ĐTM bắt buộc phải đảm bảo đầy đủ 3 yếu tố như: Kiểm soát được quyền ra quyết định, thông tin minh bạch và có sự tham gia của người dân địa phương. Trong đó, sự tham gia của người dân và các tổ chức xã là rất quan trọng.

“Tuy nhiên, để làm được điều trên, tôi nghĩ chúng ta cần phải có cơ chế thực và phải có báo cáo thông tin định lượng. Cùng với đó, chúng ta phải ‘phơi’ thông tin trên một phương tiện nhất định, để cộng đồng có thể biết và có sự tham gia chung,” giáo sư Võ khuyến nghị.

Ở một góc độ khác, tiến sỹ Hoàng Văn Nghĩa, Viện Nghiên cứu Quyền con người (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) thẳng thắn cho biết, ĐTM của nước ta đã có những quy định cụ thể, nhưng cách quản trị, triển khai và thực hiện thì còn rất yếu. Cùng với đó, nhận thức về bảo vệ môi trường của chủ thể nghĩa vụ và thụ hưởng quản lý môi trường còn hạn chế, trong khi việc tiếp cận các nguồn tin đang còn thiếu.

“Để ĐTM phản ánh đúng thực tế, tôi cho rằng cần phải có sự tham gia của cộng đồng, người dân và các tổ chức xã hội như báo chí. Cùng với đó, cần phải thúc đẩy cơ chế tư pháp như thành lập tòa án môi trường. Và vi phạm môi trường cần phải xử lý thật mạnh tay,” tiến sỹ Nghĩa kiến nghị.

Tại tọa đàm, các đại biểu đến từ các cơ quan nhà nước và tổ chức quốc tế cũng cho rằng ĐTM là một công cụ quan trọng để quản lý, đảm bảo công bằng và quyền lợi cho người yếu thế. Do vậy, cần tăng cường sự tham gia của nhân dân vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách, bao gồm cả vấn đề môi trường; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội vào giám sát bảo vệ môi trường.

Nguồn: VietnamPlus

Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường: Tăng cường giám sát của Mặt trận

Luật Bảo vệ môi trường (BVMT-1993) được sửa đổi lần thứ nhất vào năm 2005 với việc đưa vào hàng loạt các văn bản dưới luật để tăng cường công tác bảo vệ môi trường (BVMT) ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay việc nhiều dự án có ảnh hưởng lớn đến môi trường “vượt rào” được chấp thuận đầu tư; cùng nhiều chồng chéo trong quản lý gây ra các cảnh báo đáng lo ngại về môi trường đã đặt ra vấn đề sửa đổi luật này lần thứ 2 một cách nghiêm túc.

Các nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường trong các dự án phát triển và các bất cập về chính sách môi trường cho biết, đến nay sự minh bạch thông tin vẫn chưa đồng nhất giữa Điều 104 Luật BVMT 2005 và Điều 21, 22 của Nghị định 29/2011/NĐ-CP. Cụ thể, hiện UBND cấp xã, cộng đồng dân cư – những người có khả năng giám sát trực tiếp các tác động của môi trường nhưng lại không tiếp cận đầy đủ thông tin để phản biện và giám sát độc lập. Thực tế này cũng khiến thiếu cơ chế tiếp cận, giải quyết, phản hồi và được cung cấp thông tin đối với cộng đồng dân cư. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Phượng, thuộc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), một phần của việc người dân và các tổ chức xã hội không có được thông tin đầy đủ để giám sát là bởi vì phần lớn chính sách hiện chỉ tập trung vào các loại chất thải phát sinh và biện pháp xử lý chưa hoặc rất ít đề cập đến các tác động khác như: suy thoái môi trường (xói mòn, sụt lún) có thể xảy ra; Không có cơ chế kiểm chứng thông tin do chủ đầu tư cung cấp; Thiếu sự giám sát độc lập trong quá trình tham vấn;…

cucphuong-07Ảnh: PanNature.

Theo nghiên cứu của PanNature, từ năm 2006 – 2010 được đánh giá là giai đoạn có nhiều chuyển biến tích cực về mặt chính sách, cũng như nhận thức của các cấp đối với công tác BVMT. Tuy nhiên, trên thực tế suy thoái môi trường vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp. Vấn đề suy giảm chất lượng nguồn nước ở các lưu vực sông đã lên mức báo động; ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp đã trở thành vấn đề đáng lo ngại; đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng và an ninh môi trường bị đe dọa. Ô nhiễm môi trường trong khai thác tài nguyên cũng trở thành vấn đề nóng và thu hút sự quan tâm của công luận. Bên cạnh đó, các hành vi xâm hại môi trường vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi và gây nhiều tác động tiêu cực đối với cộng đồng dân cư. Nhiều nghiên cứu cũng phản ánh hiện trạng, chi phí cho hoạt động thẩm định. Chẳng hạn, phí thẩm định dự án công nghiệp có tổng vốn đầu tư trên 7.000 tỷ đồng là 96 triệu đồng, mức cao nhất theo Thông tư 218/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính. Trong khi đó, các bất cập trong chi phí cho hoạt động kiểm tra, xác nhận việc chủ dự án đã thực hiện các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường; phân bổ và sử dụng theo quy định về ngân sách hiện vẫn còn nhiều lỏng lẻo.

Theo Thạc sĩ Dương Xuân Điệp, Viện Khoa học Quản lý Môi trường, chỉ trong chính sách quản lý chất thải rắn hiện nay đã nảy sinh không ít các bất cập. Chẳng hạn tại khu vực nông thôn hiện nay đa số các địa phương không quy hoạch được các bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng; khoảng 19% chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường;…Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do chính sách chưa hoàn thiện, chưa được thực thi đầy đủ. Bên cạnh đó, việc phân công, phân nhiệm còn phân tán, chồng chéo và nhiều lỗ hổng; trong khi thực tế quy hoạch quản lý chất thải hiện nay rất khó thực hiện. Ông Nguyễn Đức Tùng, Viện Môi trường và Phát triển bền vững cũng đặt ra các vấn đề, trong thời gian qua ở nước ta có quá nhiều dự án phát triển kinh tế – xã hội quan trọng với báo cáo “Đánh giá tác động môi trường” (ĐTM) đã được tham vấn. Tuy nhiên, có tham vấn báo cáo ĐTM không, hay chỉ tham vấn bản báo cáo về tác động môi trường mà chủ dự án gửi UBND cấp xã; phân trách nhiệm trong tham vấn giữa chủ dự án và các tổ chức được tham vấn, ai xác định đối tượng được tham vấn;…? “Điều 14, mục 3, điểm b của Dự thảo Luật về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội,….xác định được tham vấn đối với các dự án có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức. Tuy nhiên, các điều nào về tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM, các dự án lại không nhắc gì đến trách nhiệm của các tổ chức xã hội ?!”, ông Tùng phân tích.

Điều phối viên cao cấp Tổ chức OXFAM, bà Nguyễn Thu Hương nêu tham vấn, hiện nay, trước khi Chính phủ giao đất cho dự án, trước khi dự án được triển khai xây dựng thì cộng đồng cần có thời gian để hiểu thông tin và ra quyết định. Theo bà Hương, cộng đồng có thể nói “đồng ý” hay “không đồng ý” đối với dự án và vào bất kỳ thời điểm nào của dự án. Đó là nguyên tắc khi Việt Nam cam kết với quốc tế về FPIC (cơ chế thực hành quyền quyết định và đưa ra các điều khoản hợp tác với các bên liên quan). Điều phối viên của OXFAM cũng nhấn mạnh trách nhiệm của MTTQ và các tổ chức thành viên của MTTQ cần tuyên truyền, vận động và tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật và bảo vệ môi trường. Trong đó, vai trò hỗ trợ cộng đồng và giám sát quá trình nhà nước, chủ dự án tham vấn cộng đồng, hỗ trợ cộng đồng thực hiện theo các nguyên tắc quốc tế cần phải được chú trọng.

Nguồn: Đại Đoàn Kết

Tọa đàm: Chính sách đất đai và quan hệ đất đai từ góc nhìn lịch sử và hiện tại

Đất đai là một loại loại hàng hóa và tài sản đặc biệt, có tính chất khác hẳn với các loại hàng hóa thông thường. Đất đai không chỉ đơn thuần có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn về chính trị, lịch sử và văn hóa. Quan hệ đất đai không phải là quan hệ giữa người với đất mà là mối quan hệ giữa những người có liên quan trực tiếp và/hoặc gián tiếp đến đất đai. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua các quyền và đính kèm quyền này làtrách nhiệm, quy định việc sử dụng và quản lý đất đai. Các quyền và trách nhiệm không phải là bất biến; chúng được xác định bởi các thiết chế, trong đó bao gồm cả chính sáchcủa nhà nước. Hệ thống các thiết chế thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau có thể làm thay đổi các quyền và trách nhiệm có liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai. Nói cách khác, các quyền và trách nhiệm chỉ có tính tương đối về mặt không gian và thời gian.

toadamdatdai-02Ảnh: PanNature.

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, với khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn và 48%trực tiếp sống bằng nghề nông. Đất đã, đang và vẫn sẽ là công cụ sản xuất quan trọng cho nhiều người dân, đặc biệt là những người nông dân nghèo hiện hàng ngày đang phải lệ thuộc vào các hoạt động canh tác trên đất. Đất không chỉ đơn thuần là phương tiện sản xuất mà còn là tài sản quý giá của nhiều hộ gia đình.

Tại Việt Nam kể từ thập niên 40-50 đến nay quan hệ đất đai đã có những thay đổi căn bản. Sau khi dành độc lập, Nhà nước tiến hành thực hiện chính sách người cày có ruộng, theo đó đất đai của địa chủ bị tịch thu vàchia lại cho những người dân nghèo. Thập niên 60-80 được đánh dấu bằng quá trình hợp tác xã hóa, với đất đai được huy động vào hợp tác để thực hiện sản xuất tập trung. Cuối thập kỷ 80 và đầu 90 đánh dấu quá trình xóa bỏ hợp tác xã, trong bối cảnh đất đai được chia cho các hộ gia đình. Luật đất đai do Nhà nước ban hành gần đây quy định rõ ràng về các quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất. Là cơ quan quản lý về đất đai, Nhà nước đóng vai trò bảo hộ cho các các quyền và trách nhiệm được quy định cho người sử dụng đất.

Do đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là một loại hàng hóa, tài sản đặt biệt mối quan hệ đất đai là quan hệ phức tạp. Các quyền và trách nhiệm cũng như phạm vicủa các quyền/trách nhiệm theo không gian và thời gian của người sử dụng đất được quy định bởi luật thể hiện mối quan hệ quyền lực giữa người quản lý và người sử dụng đất đai. Quan hệ này không những thể hiện thông qua các hành động có liên quan đến đất đai được quy định trong các quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất và người quản lý, mà còn phản ánh quan điểm của các cơ quan quản lý về đất đai đối với người sử dụng đất nói riêng và người dân trong xã hội nói chung.

Trong bối cảnh nền kinh tế của Việt Nam ngày càng hội nhập với thị trường, quan hệ đất đai ngày càng trở nên phức tạp. Hàng năm các vụ khiếu kiện có liên quan đến đất đai vẫn còn xảy ra và chưa có xu hướng giảm. Để hiểu được tính phức tạp của quan hệ đất đai tại trong quản lý và sử dụng đất tại Việt Nam, Tổ chức Forest Trends phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên tiến hành tổ chức buổi Tọa đàm khoa học về chủ đề “Chính sách đất đai và quan hệ đất đai từ góc nhìn lịch sử và hiện tại”.

MỤC ĐÍCH

Tọa đàm nhằm tạo diễn đàn cho việc trao đổi thông tin về lịch sử quan hệ đất đai và chính sách đất đai. Bên cạnh đó, Tọa đàm nhằm thảo luận về các tác động của các chính sách đối với cộng đồng, trong đó tập trung vào các khía cạnh kinh tế, xã hội và văn hóa.

CÁC BÀI TRÌNH BÀY

Quản lý đất đai tại Việt Nam 1945 – 2010
TS.Nguyễn Đình Bồng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai

Chính sách đất đai hiện hành và giải pháp từ người dân và cộng đồng
GS.Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Tập trung ruộng đất ở Việt Nam: Thực trạng và gợi ý chính sách
TS.Nguyễn Trung Kiên, Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp

Về sử dụng đất lâm nghiệp: Chính sách từ quá khứ đến tương lai
GS.Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Cục trưởng Cục Lâm nghiệp

Tạo sự đồng thuận giữa chính quyền và người dân trong lĩnh vực đất đai

Để hiểu được tính phức tạp của quan hệ đất đai trong quản lý và sử dụng đất trong bối cảnh nền kinh tế của Việt Nam ngày càng hội nhập với thị trường, ngày 30/8 tại Hà Nội, tổ chức Forest Trends (tổ chức quốc tế phi lợi nhuận) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên, tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Chính sách đất đai và quan hệ đất đai từ góc nhìn lịch sử và hiện tại”, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, các học giả, nghiên cứu sinh, đại diện một số cơ quan nghiên cứu và quản lý nhà nước có liên quan đến lĩnh vực này.

toadamdatdai-01

Ảnh: PanNature.

Từ góc nhìn lịch sử và hiện tại về chính sách đất đai và quan hệ đất đai của nước ta, Tiến sĩ Nguyễn Đình Bồng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai cho rằng: Việt Nam là một đất nước thuần nông, với khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn và 48% trực tiếp sống bằng nghề nông. Đất đai đã và đang là công cụ sản xuất quan trọng. Đặc biệt, người dân nghèo hiện hàng ngày phải lệ thuộc vào các hoạt động canh tác trên đất. Đất không chỉ đơn thuần là phương tiện sản xuất, mà còn là tài sản quý giá của nhiều gia đình.

Kể từ thập niên 40-50 đến nay, quan hệ đất đai ở nước ta đã có những thay đổi căn bản. Sau khi giành độc lập, Nhà nước thực hiện chính sách “người cày có ruộng”. Theo đó, đất đai của địa chủ bị tịch thu và chia lại cho những người dân nghèo. Thập niên 60-80 được đánh dấu bằng quá trình hợp tác xã hóa, với đất đai được huy động vào hợp tác để thực hiện sản xuất tập trung. Cuối thập kỷ 80 và đầu 90 đánh dấu bằng quá trình xóa bỏ hợp tác xã, trong bối cảnh đất đai được chia cho các hộ gia đình. Luật Đất đai do Nhà nước ban hành gần đây quy định rõ ràng về các quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất. Là cơ quan quản lý về đất đai, Nhà nước đóng vai trò bảo hộ cho các quyền và trách nhiệm được quy định cho người sử dụng đất.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Trung Kiên, Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp: Cả nước hiện có tới 70 triệu mảnh ruộng, bình quân mỗi mảnh từ 300-400m2, trong đó mỗi hộ có tới 7-10 mảnh ruộng. Sự manh mún này đang cản trở cơ giới hóa nông nghiệp và áp dụng khoa học kỹ thuật, nên không tận dụng được tính kinh tế theo quy mô lớn và kìm hãm hiệu quả sản xuất. Vì vậy, phải thay đổi tư duy theo hướng thị trường đất đai phải gắn với thị trường lao động khi tích tụ ruộng đất, để xử lý vấn đề nông dân mất đất; đồng thời thúc đẩy tích tụ và tập trung ruộng đất ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam nhằm sử dụng quỹ đất một cách có hiệu quả, đi đôi với việc quy hoạch thành lập các vùng chuyên canh nông nghiệp sử dụng nhiều vốn và công nghệ cao.

Với tham luận “Chính sách đất đai hiện hành và giải pháp từ người dân và cộng đồng”, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Hùng Võ đã khái quát tổng quan về Luật Đất đai, mặt khác nêu ra những bất cập cần quan tâm trong sửa đổi Luật Đất đai 2003. Theo ông, sự đồng thuận giữa chính quyền và người dân là một yếu tố cần đạt được không chỉ trong vấn đề đất đai, mà trong mọi quá trình phát triển đất nước. Sự đồng thuận của người dân và chính quyền có thẩm quyền quyết định về đất đai, là một yếu tố mang tính nguyên lý để tạo nên bền vững xã hội.

toadamdatdai-02

Ảnh: PanNature.

Nhìn toàn diện vấn đề, cũng có nhiều cách để vừa đầu tư phát triển, vừa đồng thuận được với dân. Cách thức chính là lợi ích đầu tư phát triển phải được chia sẻ minh bạch. Ví dụ cụ thể như sự đồng thuận của chính quyền xã Thanh Văn, huyện Quốc Oai (Hà Nội) đã làm được. Bí quyết ở đây là cán bộ không tham nhũng, chính quyền và cán bộ thực sự là của dân, do dân và vì dân.

Các đại biểu tham dự Tọa đàm “Chính sách đất đai và quan hệ đất đai từ góc nhìn lịch sử và hiện tại” đều cho rằng, pháp luật đất đai hiện nay còn nhiều bất cập, nguy cơ tham nhũng lớn và khiếu kiện nhiều, nên cần đặt người dân vào vị trí trung tâm để giải quyết các mối quan hệ liên quan đến đất đai. Khi người dân được thực hiện đầy đủ quyền đối với đất đai, quyền tham gia quyết định, quyền tham gia quản lý, quyền sử dụng và quyền giám sát về đất đai, thì chắc chắn sự đồng thuận xã hội được xác lập. Đó cũng chính là căn nguyên của bền vững xã hội trong quá trình phát triển.

Nguồn: MONRE

Giải quyết tranh chấp môi trường: Đường xa vạn dặm

Tranh chấp môi trường đang là hiện tượng xã hội bức xúc, ngày càng phổ biến. Nhất là các vụ tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về người và tài sản do ô nhiễm môi trường gây nên.

Thiếu vắng sức mạnh cộng đồng

Buổi trò chuyện về môi trường do Văn phòng Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNatune) tổ chức tuần trước, một góc nhìn tranh chấp môi trường được các chuyên gia quan tâm là các KCN, KCX gây ô nhiễm nghiêm trọng. 56,63% người dân Đà Nẵng nói họ bị ảnh hưởng của ô nhiễm mùi từ KCN và tại TP.HCM, tỷ lệ này là 96%. Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp, Bộ Công thương cho biết số liệu này.

2013_234_13_A1Ảnh: Lê Giang – Hoàng Long

Hiến pháp quy định công dân được giao trách nhiệm quản lý môi trường. Thực tế người dân lại không được giao cho những quyền lợi thực sự. Các báo cáo Đánh giá Tác động môi trường thường không được công bố rộng rãi, thiếu minh bạch thông tin.

Điểm lại một số vụ tranh chấp điển hình về môi trường ở ta lâu nay sẽ thấy người dân đã gửi đơn thư tố cáo ô nhiễm gây hại cho cây trồng, vật nuôi, sức khỏe và tập quán canh tác của họ. Đã phong tỏa sản xuất kinh doanh, biểu tình, kêu gọi tẩy chay sản phẩm, thậm chí đập phá cơ sở gây mất an ninh môi trường, gây sức ép lên các “ông chủ” gây ô nhiễm. Nhưng nhiều khiếu kiện kéo dài ngày càng phức tạp do giải quyết chưa minh bạch. Trước đó, tại một hội thảo cùng chủ đề, Bộ TN&MT thừa nhận bức xúc và ảnh hưởng của tranh chấp môi trường chỉ xếp sau tranh chấp đất đai.

Người dân không biết khiếu nại của mình đang ở giai đoạn nào, trong khâu xử lý, chưa nói đến kết quả xử lý tranh chấp có thỏa đáng hay không. TS Nguyễn Ngọc Sinh tại hội thảo mới nhất do VACNE cùng Viện Chính sách Môi trường (Bộ TN&MT) và Quỹ Châu Á tổ chức hôm 20-8 cho rằng, giải quyết tranh chấp môi trường là vấn đề khó và rất mới ở ta. Các nước trên thế giới đều vấp phải vấn đề này. Nhật Bản là một trong số ít các quốc gia có Luật Tranh chấp môi trường. Cần tham khảo Nhật Bản như cách thức tổ chức phải minh bạch hay phải thành lập một tổ chức, hoặc cơ quan ngoài tòa án chuyên tư vấn hòa giải độc lập ở các cấp, trước hết là cấp cơ sở có công quyền. Tranh chấp môi trường còn phải bao hàm cả đa dạng sinh học chứ không nên bó hẹp về ô nhiễm.

Xử lý tranh chấp dựa trên “phàn nàn”?

Trong khi chính quyền nhiều địa phương còn rất “miễn cưỡng” xử phạt các công ty gây ô nhiễm, vì dường như chất lượng môi trường địa phương ít liên quan đến vị thế của họ, thì nhiều doanh nghiệp đều thấy rõ nộp tiền phạt sau khi gây ô nhiễm luôn rẻ hơn đầu tư vào hệ thống xử lý kiểm soát ô nhiễm, rủi ro bị đóng cửa do gây ô nhiễm cũng rất thấp. Chỉ khi nổi lên những vụ lớn như bị các hãng tàu Nhật Bản phàn nàn về vỏ tàu của họ bị ăn mòn trên sông Thị Vải do công ty Vedan gây ô nhiễm, chính quyền địa phương mới nghiêm túc vào cuộc. Đây là điển hình của giải quyết tranh chấp môi trường “dựa trên phàn nàn” – Điều phối viên chương trình IUCN Việt Nam, Jake Brunner nhìn nhận.

Các thảm họa do ô nhiễm môi trường đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của báo chí. Tuy nhiên hệ thống dày đặc bài viết đề tài này lại quá ít chỉ ra mối liên hệ giữa các tranh chấp môi trường với các bất cập trong cơ chế giải quyết. Dù có rất nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên báo chí, song vẫn chưa thấy có bất kỳ một vụ tố tụng hình sự nào về ô nhiễm công nghiệp ở nước ta.

Báo chí cũng chưa phân tích sâu bản chất các sự kiện, thiếu sót trong đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, thậm chí “trăm dâu đổ đầu thời tiết, biến đổi khí hậu”…

Thiếu hệ thống pháp luật bài bản

Việc thực thi luật pháp không thống nhất khi người dân được phép tham gia giám sát bảo vệ môi trường nhưng lại không được trao quyền để thực hiện. Đúng hơn, lỗ hổng trong thực thi giải quyết tranh chấp môi trường ở ta là nó vẫn phụ thuộc vào các xử phạt hành chính. Biện pháp này không hề góp phần giảm ô nhiễm mà dẫn đến càng ngày càng ô nhiễm và người dân cảm thấy bất an. Các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm muốn hết ô nhiễm chủ yếu phải chuyển đổi công nghệ tốt hơn thì lại thuần túy di dời từ nội ra ngoại thành, nhuộm tiếp ngoại thành ô nhiễm…

Có thể thấy người dân là nạn nhân của ô nhiễm luôn gặp khó khăn để thu thập đủ chứng cớ chứng minh, cũng như hạn chế về tiềm lực tài chính để theo đuổi các vụ kiện. Người gây ô nhiễm thực tế lại được bảo vệ, “thoát” việc trả tiền bồi thường. Khu dân cư thiếu vắng các chuyên gia nắm vững kiến thức nền, độ nhạy bén chính sách để có thể hỗ trợ cộng đồng cư dân phản biện vấn đề môi trường khi cần thiết. Tiếng nói của các tổ chức xã hội dân sự trong việc giám sát và giải quyết tranh chấp môi trường chưa được coi trọng.

Nhưng Luật Tranh chấp môi trường nước ta chưa có, chỉ có Điều 129 trong Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định về vấn đề này, chưa đủ rõ ràng cụ thể. Quy định danh phận cho các tổ chức trung gian hòa giải môi trường ở cơ sở cũng chưa. Các chuyên gia cho rằng cần phân biệt các cấp độ giữa mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột; nên thành lập tòa án môi trường.

Để giải quyết thấu đáo tranh chấp môi trường rõ ràng đường vẫn còn dài phía trước.

Nguồn: Báo Đại Đoàn Kết

Hội thảo góp ý sửa đổi Luật Bảo vệ Môi trường 2005

Sau khi thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế vào năm 1986, Việt Nam bắt đầu quan tâm hơn đến mục tiêu bảo vệ môi trường (BVMT). Điều này đã phần nào thể hiện qua nỗ lực tham gia các tiến trình quốc tế liên quan như Hội nghị Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc tại Rio de Janerio năm 1992. Cùng với việc tham gia ký kết một số công ước quốc tế, Việt Nam cũng bắt đầu xây dựng hệ thống chính sách pháp luật và thành lập các cơ quan chuyên môn để phục vụ công tác bảo vệ môi trường. Năm 1993, Luật Bảo vệ Môi trường lần đầu tiên được ban hành với những nội dung sơ khai. Năm 2005, Luật Bảo vệ Môi trường được sửa đổi lần thứ nhất với những nội dung mang tính toàn diện và tổng thể hơn. Cùng với đó, hàng loạt các văn bản dưới luật cũng đã được ban hành để tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

cucphuong-05Ảnh: PanNature.

Trong 20 năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật trong lĩnh vực BVMT. Đặc biệt, những năm 2006 – 2010 được đánh giá là giai đoạn có nhiều chuyển biến tích cực về mặt chính sách cũng như nhận thức của các cấp đối với công tác BVMT. Tuy nhiên, trên thực tế, suy thoái môi trường vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp. Vấn đề suy giảm chất lượng nguồn nước ở các lưu vực sông đã lên mức báo động; ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp đã trở thành vấn đề đáng lo ngại; đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng và an ninh môi trường bị đe dọa (Báo cáo Môi trường Quốc gia, 2010). Ô nhiễm môi trường trong khai thác tài nguyên cũng trở thành vấn đề nóng và thu hút sự quan tâm của công luận. Bên cạnh đó, các hành vi xâm hại môi trường vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi và gây nhiều tác động tiêu cực đối với cộng đồng dân cư.

Trong bối cảnh như trên, một câu hỏi được đặt ra là những vấn đề chính sách gì còn tồn tại khiến công tác BVMT trong thời gian qua chưa đạt được những hiệu quả như mong muốn? Trong giai đoạn Luật BVMT 2005 đang được nghiên cứu sửa đổi, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Văn phòng Quốc Hội phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên cùng Viện Tư vấn Phát triển tổ chức hội thảo “Góp ý sửa đổi Luật bảo vệ môi trường 2005”.

Thời gian và địa điểm

  • Thời gian: Ngày 15 – 16 tháng 8 năm 2013.
  • Địa điểm: Vườn Quốc gia Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình

Các bài trình bày trong hội thảo

Tuyên bố của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển: Sự tham gia và trách nhiệm của Việt Nam
Ông Trịnh Lê Nguyên, PanNature

Giới thiệu Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường
TS. Dương Thành An, Vụ trưởng Vụ chính sách và pháp chế, Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT

Bàn về các quy định đánh giá môi trường chiến lược và quy hoạch môi trường trong Dự thảo sửa đổi Luật BVMT 2005
GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường.

Đánh giá tác động môi trường trong các dự án phát triển và các bất cập chính sách
Bà Nguyễn Hoàng Phượng, PanNature

Tình hình thực hiện Cam kết BVMT trong thời gian qua và đinh hướng trong thời gian tới
TS. Nguyễn Khắc Kinh, Nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định, Bộ TN&MT

Công cụ kinh tế trong quản lý bảo vệ môi trường
TS. Lê Thu Hoa, Khoa Môi trường – Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam: Thực trạng, bất cập chính sách và một số định hướng cho Luật BVMT sửa đổi
Ông Dương Xuân Điệp, Viện Khoa học quản lý môi trường

Chính sách bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản: Thực tiễn thực thi và các bất cập
Bà Trần Thanh Thủy, PanNature

Cải tiến việc tham vấn báo cáo ĐTM của các dự án phát triển kinh tế – xã hội
Ông Nguyễn Đức Tùng, Viện Môi trường và Phát triển bền vững

Nguyên tắc Đồng thuận tự nguyện, báo trước và được cung cấp thông tin
Bà Nguyễn Thu Hương, Tổ chức Oxfam

Dự thảo Luật BVMT sửa đổi và quyền khởi kiện bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Ông Nguyễn Việt Dũng, PanNature

Cấu trúc của ngành luật BVMT: Kinh nghiệm một số quốc gia và bài học cho Việt Nam
Ông Nguyễn Minh Đức, VCCI

BIÊN BẢN HỘI THẢO (theo băng ghi âm tại hội trường)

Diễn đàn Tài nguyên Mê Kông II: Hợp tác đầu tư và Phát triển bền vững Tiểu vùng Mê Kông

Cùng với xu hướng tự do hóa trong thương mại và đầu tư quốc tế, toàn cầu hóa và khu vực hóa, cũng như sự hội nhập sâu sắc của cộng đồng chung ASEAN, các dòng vốn luân chuyển, tìm đến các thị trường mới giàu tiềm năng hơn. Cũng nằm trong xu hướng đó, trong thập kỷ qua, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài không ngừng gia tăng. Theo thống kê của Cục Quản lý Đầu tư Nước ngoài, tính đến 31/12/2012, đã có tổng cộng 719 dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là 29,23 tỷ đô la Mỹ, trong đó vốn của các nhà đầu tư Việt Nam là 12,87 tỷ đô la Mỹ.  Trong đó, lưu vực sông Mê kông là nơi tiếp nhận đầu tư lớn nhất của Việt Nam.

Sự dịch chuyển nguồn vốn ra nước ngoài là tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế sau gần 3 thập kỷ đổi mới, cũng là minh chứng cho sự hội nhập sâu sắc của Việt Nam vào các tiến trình khu vực và quốc tế. Trong khu vực Mê Kông, dòng đầu tư từ Việt Nam đã và đangcó nhiều đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của các nước bạn. Tuy nhiên, như đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam cũng còn gặp nhiều tồn tại và hạn chế. Bên cạnh các rủi ro về kinh tế, môi trường kinh doanh, luật pháp và văn hóa của nước sở tại, v.v. có nhiều khía cạnh khác về môi trường – xã hội chưa được doanh nghiệp và các nhà đầu tư chú ý, tính toán đầy đủ.

Trong cơ cấu đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, các lĩnh vực liên quan đến tài nguyên thiên nhiên (phát triển thủy điện, khai khoáng, cây công nghiệp và khai thác lâm sản) chiếm một tỷ trọng rất lớn. Các loại hình dự án này thườngcó nguy cơ gây nhiều tác động tiêu cực đến tài nguyên, hệ sinh thái và cộng đồng sở tại.  Trong bối cảnh luật pháp của các nước sở tại ngày càng  thắt chặt; nhận thức của cộng đồng ngày càng được cải thiện; và cơ chế cho sự giám sát của các tổ chức ngoài nhà nước ngày càng được mở rộng, doanh nghiêp Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít thách thức trong việc đảm bảo sự an toàn cho hoạt động đầu tư. Trong trường hợp không đảm bảo tuân thủ các chính sách môi trường xã hội của nước sở tại và giải quyết được các xung đột với cộng đồng địa phương, doanh nghiệp Việt Nam có thể phải đối mặt với nhiều nguy cơ thất bại.

Các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là dự án khai thác tài nguyên, còn có thể gây những tác động ngược không mong muốn đối với Việt Nam. Việt Nam cũng đã bắt đầu tham gia vào nhiều thỏa thuận và công ước quốc tế, bao gồm các cam kết liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên. Việc quản lý không tốt các hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế và qua đó có thể làm giảm vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực.

Câu hỏi được đặt ra là nên cải thiện hệ thống chính sách quản lý như thế nào để giảm thiểu các tác động không mong muốn từ các dự án đầu tư ra nước ngoài, nâng cao vị thế quốc gia trong khu vực đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm – qua đó xây dựng hình ảnh một Việt Nam thịnh vượng, thân thiện, có trách nhiệm.  Để cùng thảo luận về vấn đề này, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) phối hợp cùng Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài (VAFIE), Hội Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Nam – Lào – Campuchia (VILACAED), Tổ chức Forest Trends và Tạp chí Đầu tư Nước ngoài tổ chức diễn đàn này nhằm chia sẻ thông tin về thực trạng và các giải pháp chính sách để nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường của các dự án đầu tư nước ngoài của Việt Nam.

Mục tiêu

  • Chia sẻ thông tin và quan điểm của các bên liên quan về vấn đề đầu tư nước ngoài và giảm thiểu tác động lên tài nguyên, môi trường, xã hội.
  • Thúc đẩy hợp tác khu vực nhằm giúp quản trị bền vững tài nguyên thiên nhiên thông qua cải thiện chính sách và khuyến khích áp dụng các chuẩn mực tốt trong đầu tư ra nước ngoài.

Thời gian: Ngày 10 tháng 5 năm 2013
Địa điểm: Tam Đảo, Vĩnh Phúc

mrf2-02

Các đại biểu từ Myanmar, Lào, Cambodia tại diễn đàn. Ảnh: PanNature.

CÁC BÀI TRÌNH BÀY TRONG DIỄN ĐÀN

Thực trạng về FDI và ODI của Việt Nam

Tác động môi trường – xã hội từ hoạt động đầu tư

Chủ đề I: Đầu tư trong khai khoáng và thủy điện

Chủ đề II: Đầu tư trong lâm nghiệp – đất đai

Quản lý tốt hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Tham khảo: Khung pháp luật về môi trường và xã hội tại Lào – Ông Sleumsack Xayamonh, Bộ TNMT Lào (đại biểu gửi bài nhưng không tham dự Diễn đàn).

Báo cáo – Hình ảnh

 

Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa,
Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 | Fax: 024 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn