Tổng hợp

Phối hợp liên ngành tốt sẽ thúc đẩy phát triển bền vững vịnh Hạ Long

“Để thúc đẩy quản lý nuôi trồng thủy sản bền vững tại vịnh Hạ Long cần thiết lập một cơ chế phối hợp mạnh mẽ hơn trong đó các bên tham gia tích cực”, đây là một trong những kết luận quan trọng đã được rút ra từ hội thảo tham vấn “Nguyên tắc và thực hành tốt về tiếp cận phối hợp liên ngành cho phát triển bền vững vịnh Hạ Long: Thí điểm áp dụng với hoạt động thủy sản”, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/5/2015 tại thành phố Hạ Long.

Trong chương trình hội thảo đã diễn ra cuộc thảo luận cấp cao giữa lãnh đạo UBND tỉnh và các ngành. (Ảnh: MCD)

Trong chương trình hội thảo đã diễn ra cuộc thảo luận cấp cao giữa lãnh đạo UBND tỉnh và các ngành. (Ảnh: MCD)

Hội thảo tham vấn này nằm trong chuỗi hoạt động khởi đầu của Dự án “Sáng kiến Liên minh vịnh Hạ Long – Cát Bà:Thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức địa phương và cộng đồng”. Dự án được triển khai trong giai đoạn 2014-2017, do USAID tài trợ và được chủ trì thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), với sự phối hợp của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature), Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR) và các đối tác địa phương tại Quảng Ninh. Dự án hướng đến mục tiêu góp phần bảo tồn cảnh quan và môi trường,quản lý khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hướng tới phát triển bền vững Vịnh Hạ Long dựa trên vận hành một cơ chế liên minh hợp tác giữa các bên liên quan, trong đó lựa chọn lĩnh vực thủy sản áp dụng thí điểm.

Điểm khác biệt của hội thảo tham vấn này so với những sự kiện tham vấn thông thường nằm ở phương pháp thực hiện. Altelier (công cụ hoạch định chiến lược có sự tham gia), một công cụ thúc đẩy quá trình hợp tác và đối thoại đa bên, còn khá mới mẻ ở Việt Nam, đã được triển khai với sự hỗ trợ của Gs. Marcus Ingle và Ts. Halimi Shpresa (Đại học Portland State, Hoa Kỳ). Công cụ này đã giúp kết nối các đại diện đến từ 23 cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng vào quá trình thảo luận tích cực, chia sẻ quan điểm và xây dựng sự đồng thuận về tầm nhìn, định hướng và các giải pháp cần ưu tiên thực hiện để phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản tại Vịnh Hạ Long, dựa trên bốn trụ cột chính: Kinh tế – Xã hội – Môi trường – Thể chế và Quản trị.

Trong khuôn khổ chương trình, một  cuộc trao đổi bàn tròn mang tính đối thoại và lấy ý kiến cấp cao giữa lãnh đạo tỉnh và đại diện các ngành đã diễn ra tích cực và thẳng thắn, trước sự quan sát của toàn bộ thành viên tham gia hội thảo. Ông Đặng Huy Hậu, Phó chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: “Những nỗ lực của chúng ta hôm nay đều dựa trên những nguyên tắc chung, đó là Vịnh Hạ Long phải được bảo tồn, nghề thủy sản cần được phát triển và người dân sống được nhờ đó, môi trường Vịnh Hạ Long cần được ưu tiên bảo vệ. Thậm chí Hạ Long cần có tiêu chuẩn về môi trường nâng cấp hơn. Để có được như vậy rất cần sự tham gia của xã hội, mà trước hết là chính những công dân của Hạ Long”.

Theo ông Nguyễn Văn Công, PGĐ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ninh có tiềm năng lớn về phát triển ngành thủy sản, đồng thời có lợi thế là cửa ngõ kết nối Việt Nam với khu vực và quốc tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành thủy sản đạt 6,6%/năm, đóng góp đến 47% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp. Mặc dù vậy, ngành thủy sản của tỉnh đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đó là sự cạnh tranh với sản phẩm Trung Quốc, hạn chế về công nghệ, quy mô và đầu tư, chịu sức ép từ việc phát triển các ngành công nghiệp đang có xu hướng mở rộng ở khu vực giáp biển v.v.

Trong 7 biện pháp đột phá đến 2020, ngành thủy sản của tỉnh xác định sẽ cơ cấu lại theo hướng tăng tỉ trọng nuôi trồng thủy sản và giảm đánh bắt tự nhiên, tăng đánh bắt xa bờ và giảm số lượng tàu thuyền đánh bắt gần bờ. Cộng đồng dân cư sẽ trở thành chủ thể quan trọng bảo vệ nguồn lợi thủy sản của địa phương.

 

Hội thảo tham vấn: “Thúc đẩy minh bạch trong quản trị tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam

Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) vừa phối hợp với Liên minh Khoáng sản Việt Nam tổ chức Hội thảo tham vấn: “Thúc đẩy minh bạch trong quản trị tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam” vào ngày 15/7/2014 tại Hà Nội.

Read more →

Cơ hội phát triển du lịch sinh thái ở Mù Cang Chải

Mù Cang Chải là huyện vùng cao phía Tây tỉnh Yên Bái. Nằm dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn, ở độ cao 1000m so với mặt nước biển, đây là nơi sinh sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số như Mông, Dao, Thái, trong đó người Mông chiếm đến 90% dân số. Trải qua bao thăng trầm khó khăn, vất vả của cuộc sống mưu sinh, đồng bào người Mông  vẫn gắn bó thủy chung với thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc xinh đẹp này qua bao thế hệ.

Những năm gần đây, vẻ đẹp của Mù Cang Chải đã được du khách trong và ngoài nước biết đến nhiều hơn bởi với thiên nhiên hoang sơ, nét đặc sắc của văn hóa bản địa và sự lôi cuốn của những cung đường quanh co đến các bản làng người Mông…

Nếu như trước đây khách đến Mù Cang Chải chủ yếu là những người bận công tác hay thăm viếng người thân, nay có thêm nhiều khách du lịch nước ngoài, các đoàn khách trong nước đi “phượt”, các nhiếp ảnh gia, các nhà nghiên cứu và các nhà đầu tư. Đây chính là cơ hội để phát triển ở loại hình du lịch sinh thái dựa  vào cộng đồng.

IMG_3017

Huyện Mù Cang Chải cũng là nơi có Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải rộng trên 20.000ha, cánh rừng nguyên sinh đẹp bậc nhất vùng Tây Bắc. Khu bảo tồn nằm trên địa bàn các xã Chế Tạo, Nậm Khắt, Púng Luông, Lao Chải, Dế Xu Phình,  tạo thành một vòng cung nhờ một hệ thống núi cao từ 1.700 – 2.500m bao quanh xã Chế Tạo và vùng đầu nguồn của sông Nậm Chải,  rừng phòng hộ lưu vực hệ thống sông Đà.

Nơi đây có tính đa dạng cao về thực vật và một số loài động vật  thuộc diện quí hiếm được ghi vào sách Đỏ Việt Nam và thế giới, trong đó đặc biệt có loài vượn đen tuyền. Bên cạnh đó rừng ở đây còn là nơi lưu giữ nguồn gen các loài cây dược liệu quý như đẳng sâm, hà thủ ô, sa  nhân… khí hậu ở đây khá đặc biệt mùa hè rất mát còn mùa đông thì rất lạnh. Đây cũng là một trong những yếu tố hấp dẫn đối với du khách.

Đồng bào người Mông ở đây còn gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống , đó là các phong tục cưới hỏi, ma chay và lễ hội mang những nét đặc sắc riêng của đồng bào như lễ hội cơm mới, Tết truyền thống của người Mông (trước tết Nguyên đán 1 tháng).

Trong những ngày tết, đồng bào người Mông thường tổ chức đua ngựa, đánh quay, đẩy gậy, bắn nỏ, hội Gầu tào, ném pao…Thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp, rủ nhau đi chơi, thổi kèn lá, kèn môi, ném pao, hát đúm. Ngày tết còn có ý nghĩa là ngày hội giao duyên của các đôi trai gái. Đi vào sâu trong các bản làng du khách có thể tham quan khung cảnh làng bản người Mông nằm ở những sườn núi cao từ 800 đến 1.700m.

Trải qua hàng đời gắn bó với vùng núi cao Mù Cang Chải, người Mông đã đúc kết được những phương thức sinh sống khá độc đáo, thích ứng với điều kiện ở nơi đây như kinh nghiệm làm ruộng bậc thang và một số nghề thủ công truyền thống như: nghề rèn đúc, dệt vải bằng sợi lanh, làm đồ trang sức…

Điểm hấp dẫn nhất đối với du khách khi đến với Mù Cang Chải đó là được thỏa thích ngắm nhìn ruộng bậc thang và chụp ảnh. Hệ thống ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải với diện tích khoảng 700ha tập trung chủ yếu ở 3 xã  La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Su Phình. Năm 2007, ruộng bậc thang ở 3 xã này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia. Tháng 10 dương lịch hàng năm là tháng lúa chín rộ, đây cũng là mùa đẹp nhất trong năm ở Mù Cang Chải nên thu hút rất nhiều khách du lịch đến tham quan.

Anh MCC

Tuy nhiên du lịch ở đây mới mang tính sơ khai, tự phát chưa có quy hoạch và chiến lược cụ thể của các cấp chính quyền địa phương cũng như sự quan tâm của các nhà đầu tư. Để tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch sinh thái dựa cộng đồng phát triển và mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế xã hội cho người dân địa phương, thiết nghĩ đã đến lúc chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng có liên quan đến ngành du lịch cần quan tâm tiến hành một số hoạt động cụ thể  như:

1.  Khảo sát, kiểm kê tài nguyên du lịch, xây dựng quy hoạch phát triển du lịch tập trung chủ yếu vào các nguồn tài nguyên du lịch sẵn có như:

–  Ruộng bậc thang tại các xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Su Phình.

–  Các làng bản, văn hóa truyền thống của người Mông: Các lễ hội, trang phục, tập quán, làng nghề….

– Quy hoạch không gian du lịch cho phép nhằm phục vụ nhu cầu tham quan tìm hiểu, nghiên cứu về đa dạng sinh học và tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh, sinh viên trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải.

2. Xây dựng trung tâm quảng bá và xúc tiến du lịch để tăng cường  phát triển và quảng bá các tour, tuyến và sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng của Mù Cang Chải.

3. Đầu tư xây dựng  mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, điện nước, các công trình nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, ẩm thực miền núi và các hoạt động  bảo vệ cảnh quan, môi trường thiên nhiên.

4. Hướng dẫn cho người dân phát triển du lịch sinh thái thông qua việc liên kết tạo ra các sản phẩm du lịch và dịch vụ tại địa phương: mô hình homestay, dịch vụ thuê xe đạp hoặc xe máy, hướng dẫn viên bản địa, sản phẩm làng nghề thủ công (các sản phẩm thổ cẩm, khèn, các sản phảm chế tác từ nghề rèn, các sản phẩm chế biến từ táo mèo, thảo quả, đẳng sâm, cho khách tham gia cùng trồng, gặt lúa, làm nương rẫy hay dựng nhà…).

Để đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mang nét đặc trưng riêng, tạo được những bước đột phá phát triển du lịch sinh thái ở Mù Cang Chải ngoài những nội dung trên cần có những giải pháp mang tính đồng bộ và khả thi như xây dựng cơ chế và chính sách ưu đãi đầu tư phát triển du lịch, chính sách ưu đãi về vốn vay, về thuế cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư vào các dự  án du lịch, nhất là đối với các dự án phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở những khu vực có nhiều tiềm năng, nhưng còn khó khăn về cơ sở hạ tầng và về nguồn nhân lực.

Chính quyền địa phương và các cơ quan ngành du lịch cần tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, các tổ chức trong và ngoài nước cũng như nguồn lực trong nhân dân, đảm bảo đủ nguồn vốn cho đầu tư du lịch; Tăng cường hỗ trợ tài chính và xã hội hóa hoạt động xúc tiến, quảng bá nhằm xây dựng sản phẩm và hình ảnh đặc trưng của Mù Cang Chải.

Với xu thế phát triển du lịch sinh thái và văn hóa đang lan rộng khắp các vùng miền trong cả nước và tầm nhìn đến năm 2030 của ngành du lịch Việt Nam thì trong tương lai, loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng của Mù Cang Chải chắc chắn sẽ có cơ hội phát triển và cùng với các điểm du lịch  nổi tiếng như  Mai Châu – Hòa Bình, Sapa – Lào Cai, Mộc Châu – Sơn La….tạo nên một không gian du lịch văn hóa và sinh thái rộng lớn, hấp dẫn của miền núi Tây Bắc Việt Nam, là nơi để tôn vinh thêm vẻ đẹp tiềm ẩn của đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế.

Lê Thị Thúy Vinh – Tổ chức FFI Việt Nam

Tập huấn đánh giá và phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn

Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái (DLST) nhờ có cảnh quan đa dạng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Bên cạnh đó, các giá trị văn hóa độc đáo của mỗi vùng miền cũng là thế mạnh cuốn hút khách du lịch. Tuy nhiên, để có thể xây dựng được một mô hình phát triển DLST phù hợp là cả một quá trình không hề đơn giản, đòi hỏi các nhà quản lý, các tổ chức kinh doanh du lịch và cộng đồng địa phương đều được tiếp cận và tham gia.

Danh thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải. (Ảnh: Minh Xuân)

Khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông (Hòa Bình) cùng với KBT loài và sinh cảnh Mù Cang Chải (Yên Bái) và KBT loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca (Hà Giang) đều là những nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, độc đáo, có nhiều triển vọng phát triển loại hình DLST song hành với bảo tồn tài nguyên và tạo sinh kế cho người dân địa phương.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của dự án và các đối tác địa phương, từ ngày 05/8/2012 đến ngày 07/8/2012 tại thành phố Hà Giang, Dự án Sự tham gia của các tổ chức bảo tồn địa phương trong quản lý bảo vệ rừng đặc dụng đã tổ chức khóa tập huấn Đánh giá và phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn cho hơn 20 cán bộ dự án và cán bộ quản lý của ba KBT nêu trên.

Khóa tập huấn nhằm giúp các thành viên tiếp cận về DLST và tìm ra những cơ hội để phát triển các dự án, chương trình DLST tại KBT trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các nguyên tắc của phát triển DLST; những điểm hấp dẫn tiềm năng và sẵn có; nhu cầu của thị trường du lịch; dịch vụ và cơ sở hạ tầng; sự cạnh tranh trong DLST; năng lực tổ chức và nhân sự; những cân nhắc về kinh tế và văn hóa – xã hội; những cân nhắc về môi trường và đa dạng sinh học…

Trong suốt chương trình tập huấn, các thành viên đã có nhiều cơ hội chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn liên quan.

Kết quả thu được sau khóa tập huấn cho thấy hoạt động này cần được mở rộng đến cộng đồng tại các KBT nhằm xây dựng nhận thức chung về DLST, không chỉ đối với cán bộ dự án mà cả người dân tại chỗ và các đối tác liên quan, tiến tới phát triển mô hình DLST ngay tại địa phương trong tương lai.

Lê Thị Thúy Vinh (FFI)

Đánh giá nhu cầu đào tạo của các ban tự quản lâm nghiệp tại khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông

Ngày 23/6/2011 Dự án đã tiến hành tổ chức đánh giá nhu cầu đào tạo cho thành viên Ban tự quản lâm nghiệp các xóm Đèn (xã Ngọc Lâu), Khú (xã Ngọc Sơn) và Bo (xã Ngổ Luông). Mục đích là đánh giá nhanh các nhu cầu cần tập huấn về kiến thức và kỹ năng của các thành viên trong Ban tự quản lâm nghiệp các xóm mục tiêu để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Ban trong phối hợp quản lý bảo vệ rừng đặc dụng tại khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông.

Phỏng vấn người dân trên đường đi làm

Việc đánh giá được tiến hành theo phương pháp có sự tham gia, với 21 người gồm trưởng, phó ban và các thành viên Ban tự quản lâm nghiệp 3 thôn. Căn cứ để xác định yêu cầu công việc của các thành viên này là dựa vào Qui chế hoạt động của Ban tự quản lâm nghiệp đã được UBND các xã duyệt, cũng như Phương hướng hoạt động của Ban đã đề ra trong năm 2011-2012. Những thông tin cơ bản về đối tượng đánh giá và trình độ, kinh nghiệm học vấn của họ cũng được thu thập thông qua phiếu điều tra, làm cơ sở cho việc đánh giá.

Kết quả đánh giá cho thấy:

  1. Trình độ học vấn và kinh nghiệm công tác tại địa phương của Ban TQLN các xóm nói chung tại khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông tương đối cao so với nhiều địa bàn rừng đặc dụng khác. Tuy nhiên việc thiếu các cán bộ có bằng đại học, những cán bộ có kinh nghiệm làm việc ngoài địa phương vẫn là một hạn chế, cho thấy nhu cầu cần tiếp tục đào tạo Ban TQLN để có thể đảm nhận được trách nhiệm của Ban.
  2. Thành viên Ban TQLN các xóm được đánh giá đều là người Mường. Trưởng ban thường là người có kinh nghiệm công tác và uy tín lâu năm tại xóm. Tuy nhiên các trưởng ban lại có thường chỉ có học vấn hết cấp 2. Trong khi đó thư ký là những người trẻ, học hết cấp 3, tuy có ít thời gian làm cán bộ tại địa phương hơn.
  3. Những nhu cầu đào tạo được ưu tiên là đào tạo về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, phương pháp tuần tra rừng và cách thức kêu gọi tài trợ, quản lý nguồn vốn. Thứ hai là các kỹ năng về quản lý điều hành và làm việc trong tổ chức. Thứ ba là các kiến thức, kỹ năng về kỹ thuật cụ thể về sản xuất nông lâm nghiệp, về tuyên truyền.
  4. Do hầu hết các thành viên đều có trình độ học vấn trung bình, ít có kinh nghiệm làm việc ngoài địa phương nên các lớp đào tạo cần được tổ chức ngay tại địa phương, với những hình thức hướng dẫn và thực hành cụ thể, gắn liền với thực tế tại địa bàn.

Đánh giá cũng đã lập được một danh sách các nội dung cần được đào tạo, thứ tự ưu tiên và thời gian dự kiến tổ chức cho thành viên các Ban tự quản lâm nghiệp xóm ở khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông. Đánh giá nhu cầu đào tạo là bước đầu tiên trong việc xây dựng các kế hoạch và thực hiện việc nâng cao năng lực cho các tổ chức cộng đồng địa phương, để họ có thể tham gia quản lý bảo vệ rừng đặc dụng một cách đầy đủ và có ý nghĩa.

Đánh giá nhận thức, thái độ và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo tồn thiên nhiên và quản lý tài nguyên tại Mù Cang Chải

Sau khi đã lựa chọn các thôn mục tiêu xây dựng mô hình phối hợp quản lý bảo vệ rừng đặc dụng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh (BTL&SC) Mù Cang Chải, Dự án Sự tham gia của các tổ chức bảo tồn địa phương trong quản lý bảo vệ rừng đặc dụng đã tiến hành điều tra, đánh giá nhận thức thái độ của người dân tại các thôn này đối với việc bảo tồn và quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên, làm cơ sở cho những can thiệp tiếp theo của Dự án trong khu vực.

Ruộng bậc thang của người Mông tại Mù Cang Chải. (Ảnh: Minh Xuân)

Điều tra được tiến hành vào tháng 9/2010 tại các thôn Nả Háng B (xã Púng Luông), Lả Khắt (xã Nậm Khắt), Dế Xu Phình A (xã Dế Xu Phình) và Háng Gàng (xã Lao Chải) của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, triển khai thông qua phỏng vấn đại diện một số hộ dân trong các thôn mục tiêu theo các câu hỏi có cấu trúc. Các hộ được phỏng vấn chiếm 25% số hộ trong mỗi xóm, với tỷ lệ nam nữ khá cân đối.

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá nhận thức và thái độ của người dân đối với nguyên nhân và hậu quả của việc suy giảm rừng, với đa dạng sinh học, về sự hiện diện của khu BTL&SC Mù Cang Chải, hiểu biết về pháp luật bảo vệ rừng của người dân, mối quan hệ giữa cộng đồng và kiểm lâm.

Kết quả điều tra cho thấy nói chung nhận thức của người dân trong khu vực đã có những hiểu biết cơ bản về rừng, tài nguyên rừng và tầm quan trọng của rừng trong khu vực, nhất là những gì liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ như nguồn gỗ, củi, khu vực đất canh tác, động vật có giá trị săn bắn.

Tuy vậy người dân (hầu hết là người Mông) tại khu vực nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên còn thấp, chưa hiểu biết đầy đủ về các nguy cơ tác động tới rừng, chưa nắm rõ sự đa dạng sinh học và giá trị của của đa dạng sinh học trong khu bảo tồn, thông tin về sự hiện diện của khu bảo tồn còn hạn chế, thái độ của người dân đối với công tác bảo vệ rừng còn mờ nhạt.

Nguyên nhân có thể là do khoảng cách tới rừng đặc dụng từ những điểm nghiên cứu còn khá xa và trong các thôn được nghiên cứu vẫn có những nguồn lâm sản khác từ rừng phòng hộ, rừng được giao khoán, cũng như đất canh tác cho trồng rừng quanh thôn bản còn nhiều.

Hiểu biết về pháp luật đối với các vi phạm rừng đặc dụng của khu vực nghiên cứu không cao. Hầu hết đều cho là chỉ bị xử phạt nhẹ nếu vi phạm rừng đặc dụng và có nhiều hành vi xâm hại đến rừng vẫn được cho là không phạm pháp. Quan hệ của người dân đối với cán bộ kiểm lâm nhìn chung là tốt. Phần lớn người dân biết đến kiểm lâm là thông qua các buổi tuyên truyền, tập huấn bảo vệ rừng. Có rất ít vụ vi phạm trong khu vực kiểm lâm phải xử lý.

Từ kết quả này nghiên cứu đã nêu một số kiến nghị cho việc thực hiện đồng quản lý rừng đặc dụng tại khu bảo tồn này:

  • Nâng cao nhận thức cho người dân về tầm quan trọng của rừng, cung cấp những kiến thức đầy đủ hơn về đa dạng sinh học tại khu vực, phổ biến rộng rãi hơn các qui định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, cung cấp thêm thông tin về khu BTL&SC Mù Cang Chải.
  • Tuyên truyền về những hậu quả của việc mất rừng, ảnh hưởng tới đời sống người dân, tuyên truyền về pháp luật bảo vệ rừng, về sự hạn chế của tài nguyên rừng.
  • Cán bộ kiểm lâm cần tăng cường tiếp xúc với người dân, nâng cao vai trò của lực lượng kiểm lâm với việc kiểm soát lâm sản và sử dụng rừng ở khu vực, tìm kiếm sự phối hợp của người dân trong quản lý bảo vệ rừng.
  • Làm rõ ranh giới khu bảo tồn và các phân khu bảo vệ. Điều này có thể hạn chế tác động của người dân vào vùng lõi của khu bảo tồn do xung quanh khu bảo tồn còn có những diện tích rừng khác có thể đáp ứng nhu cầu lâm sản của người dân.

Dự án “Sự tham gia của các tổ chức bảo tồn địa phương trong quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng”

Việt Nam hiện có hơn 2 triệu ha rừng đặc dụng, chiếm khoảng 15% diện tích rừng trên cả nước với nhiều loại động thực vật quý hiếm có giá trị kinh tế cao. So với các nước trong khu vực, đầu tư của Chính phủ Việt Nam cho công tác quản lý rừng tính trên mỗi đơn vị ha tương đối cao. Tuy nhiên các chính sách và quy chế quản lý rừng đặc dụng hiện nay vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Chất lượng rừng đặc dụng vẫn không ngừng suy giảm, ảnh hưởng đến nguồn sống, sinh kế của người dân sống xung quanh và góp phần đe dọa sự sống của nhiều loài sinh vật. Thực tế cho thấy chỉ khi công tác quản lý rừng thu hút được sự tham gia của cộng đồng địa phương thì tình trạng này mới có thể được giải quyết.

Cùng với Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo 2003 – 2008 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2006 – 2010, Chính phủ Việt Nam chủ trương tiếp tục cải cách chính sách lâm nghiệp, chia sẻ trách nhiệm và lợi ích thu được từ quản lý rừng với các đối tác liên quan ở địa phương. Quá trình mở rộng xã hội hóa lâm nghiệp đối với rừng đặc dụng được hỗ trợ bởi các quy định và chính sách quốc gia. Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) và Chiến lược phát triển Lâm nghiệp (2007) đã cho phép thực hiện cơ chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng, qua đó mang lại lợi ích cho người dân và chủ rừng.

Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa chính sách và các quy chế hướng dẫn thực thi. Quyết định 186/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng nghiêm cấm mọi hình thức khai thác trong khu vực rừng đặc dụng và đó là quy chế thực hiện mà các cán bộ quản lý nhà nước phải tuân thủ. Điều này thường mâu thuẫn với lợi ích của người dân sống xung quanh rừng đặc dụng vốn ít nhiều vẫn sống dựa vào rừng. Việc quản lý bảo tồn rừng đặc dụng dựa vào cộng đồng do đó còn gặp nhiều khó khăn, thách thức.

Dự án “Sự tham gia của các tổ chức bảo tồn địa phương trong quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng” được xây dựng nhằm mục tiêu mang lại nhiều lợi ích cho các cộng đồng sống trong và xung quanh khu bảo tồn và đẩy mạnh công tác bảo tồn bằng cách hỗ trợ sự tham gia của người dân trong quản lý và phát triển khu bảo tồn.

Mục tiêu cụ thể của dự án là nâng cao năng lực cho các tổ chức địa phương nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng tại ba khu bảo tồn được lựa chọn và nâng cao năng lực cho tổ chức phi chính phủ địa phương nhằm thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong các chính sách quản lý rừng đặc dụng Việt Nam.

Dự án được phối hợp thực hiện bởi Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI Việt Nam) và Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) với sự tài trợ của Uỷ ban châu Âu (EU) và quỹ Ford (US). Thời gian thực hiện dự án từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2012. Mô hình phối hợp quản lý bảo vệ rừng đặc dụng được xây dựng thí điểm tại 3 khu bảo tồn: Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái), Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca (tỉnh Hà Giang) và Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông (tỉnh Hòa Bình).

Các địa bàn thực hiện dự án

Các hoạt động chính trong dự án bao gồm nâng cao nhận thức các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý khu bản tồn về lợi ích của hình thức phối hợp quản lý khu bảo tồn; nâng cao năng lực cho các tổ chức cộng đồng để tiến tới đàm phán các thoả thuận trong quản lý khu bảo tồn; hỗ trợ các hoạt động sinh kế ưu tiên được mô tả trong thỏa thuận quản lý thông qua các gói tài trợ nhỏ; tạo điều kiện để cộng đồng tham gia một số chức năng quản lý khu bảo tồn được lựa chọn; nâng cao năng lực cho tổ chức phi chính phủ Việt Nam tiếp cận xúc tiến đổi mới chính sách về phối hợp quản lý khu bảo tồn ở cấp quốc gia.

Dự kiến kết quả sẽ đạt được của dự án là: Năng lực và động lực thúc đẩy hình thức phối hợp quản lý tài nguyên rừng được xây dựng giữa các cộng đồng địa phương, ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương; Các tổ chức cộng đồng được thành lập cho phép cộng đồng tham gia một cách có ý nghĩa vào quản lý tài nguyên trong sự phối hợp với khu bảo tồn; Các nhà hoạch định chính sách có nhận thức sâu sắc hơn về sự cần thiết điều chỉnh các quy chế quản lý và hướng dẫn thực hiện quản lý đối với rừng đặc dụng nhằm khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng; PanNature thu được kỹ năng, kinh nghiệm và sự tín nhiệm cần thiết để nhân rộng mô hình có sự tham gia của người dân và tiếp cận xúc tiến đổi mới chính sánh đến những khu vực ưu tiên khác ở Việt Nam.

TIN HOẠT ĐỘNG DỰ ÁN

Họp sơ kết quý I/2012 Hội đồng Tư vấn Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải, Yên Bái

Thoả thuận hợp tác giữa ban quản lý khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc Mũi Hếch Khau Ca, Hà Giang với địa phương

Quản lý rừng bền vững với mô hình ban tự quản lâm nghiệp tại khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN

Từng bước tiếp cận đồng quản lý rừng đặc dụng ở Mù Cang Chải

Đồng quản lý để bảo vệ rừng đặc dụng

Mù Cang Chải gắn sinh kế của người dân với bảo vệ rừng

Trao quyền cho người dân sẽ bảo vệ rừng tốt hơn

Chuyện lạ ở khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông

Chúc Mừng Năm Mới 2011

Nhân dịp Năm Mới 2011 sắp đến, Trung tâm Con người và Thiên nhiên xin được chân thành cảm ơn sự hỗ trợ và giúp đỡ của các nhà tài trợ, đối tác, các cố vấn, tình nguyện viên, đồng nghiệp và bạn bè trong những năm vừa qua. Trung tâm Con người và Thiên nhiên chuẩn bị hoàn thành 5 năm đầu tiên kể từ khi chính thức thành lập …

Read more →

Thư viện Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam

Thư viện Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam là thư viện tham khảo mở. Mọi người đều có thể đến thư viện của Trung tâm để sử dụng tài liệu của thư viện mà không cần làm thẻ và trả lệ phí. Tuy nhiên, chỉ được phép đọc tài liệu tại chỗ hoặc sao chụp tại Trung tâm mà không được mượn ra ngoài.

Thư viện Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam không phải là thư viện nghiên cứu. Chúng tôi cung cấp các tài liệu hiện hành, các báo cáo và số liệu thống kê, các kế hoạch sẽ triển khai, nghiên cứu kinh tế và nghiên cứu trong từng ngành, các nghiên cứu về hoạt động phát triển tại Việt Nam. Tài liệu thường ở dạng ấn phẩm in và đĩa CD-ROM. Nội dung tài liệu phản ánh các hoạt động đang diễn ra của tất cả các đối tác phát triển, các báo cáo thống kê và các nghiên cứu từ các cơ quan chính phủ cũng như một số tài liệu cung cấp thông tin/nghiên cứu khái quát về các vấn đề phát triển của khu vực do các nhà tài trợ và cơ quan phát triển biên soạn.

Thông tin chi tiết, xin xem tại website của Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam.

Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa,
Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 | Fax: 024 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn