Đánh giá tác động môi trường: Thẩm định trên bàn giấy!
Báo cáo đánh giá tác động môi trường được thẩm định chay, thẩm định bằng việc ngồi bàn giấy tại nhà; biết báo cáo sao chép nhưng vẫn thông qua…
Read more →Báo cáo đánh giá tác động môi trường được thẩm định chay, thẩm định bằng việc ngồi bàn giấy tại nhà; biết báo cáo sao chép nhưng vẫn thông qua…
Read more →11 đập thủy điện lớn được dự kiến xây dựng chặn dòng chảy chính tại hạ lưu đang đặt tương lai của sông Mekong nằm ở "ngã tư đường", theo đánh giá của Ban thư ký Ủy hội sông Mekong.
Thông tin được đưa ra tại hội thảo khoa học "Thủy điện dòng chính Mekong: Sinh kế, an ninh lương thực và sự ổn định khu vực" sáng nay (4/10) tại Hà Nội. Sự kiện do Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cùng Trung tâm Con người và Thiên nhiên tổ chức.
Cảnh báo tác động
Góp mặt tại hội thảo, đại diện Ban thư ký Ủy hội sông Mekong (MRC) đã nhắc tới một nghiên cứu khá quy mô do MRC tiến hành cách đây 3 năm mà đến nay, theo MRC, những kết quả của nó vẫn còn nguyên giá trị.
Một trong những kết quả đánh giá chính, đó là "11 đập thủy điện lớn được dự kiến xây dựng chặn dòng chảy chính tại hạ lưu Mekong đặt tương lai của sông vào "ngã tư đường". Những đập này có nguy cơ sẽ tổn hại không thể phục hồi tới sinh thái sông, đồng thời đặt sinh kế và an ninh lương thực của hàng triệu dân cư sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên của dòng sông vào tình trạng đe dọa".
Đề xuất việc ngừng xây dựng đập thủy điện tại Mekong trong 10 năm nữa, MRC chờ đợi sẽ tiến hành các nghiên cứu sâu hơn và mong muốn các nhà chức trách có đầy đủ thông tin về rủi ro do việc xây đập thủy điện gây ra.

Ảnh: Kiên Trung/VietnamNet.
Những cái mất, theo báo cáo phân tích: việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính thượng nguồn Mekong sẽ không mang lợi cho đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng vì nó làm thay đổi cơ cấu dòng chảy. Thủy điện Xayaburi và 11 đập khác là dạng đập dâng không điều tiết, nghĩa là chỉ dùng để phát điện, ngoài ra không có mục tiêu nào khác.
Xayaburi về mùa khô, với dung tích hoạt động 225 triệu m3, nếu thủy điện không vận hành theo cơ chế đập dâng mà xả và tích để phát điện, lượng dòng chảy xuống hạ du sẽ thay đổi và gây cạn hơn cho hạ lưu trong nhiều thời điểm. Sự thay đổi này cũng sẽ tác động đến nguồn cá, tăng xâm nhập mặn.
Được ít, mất nhiều
Diễn giả hội thảo, TS Đào Trọng Tứ cho hay, quan điểm phát triển thủy điện từ 20 năm trước đến nay có sự khác nhau. Vào những năm 1990, quy mô công trình thủy điện càng to cho thấy sức mạnh quốc gia càng lớn về con người và kỹ thuật, sản xuất ra nguồn năng lượng khổng lồ… Từ đó đến nay nó đã được nhìn nhận và dừng lại để đánh giá tác động của các công trình thủy điện đối với môi trường và sự phát triển bền vững. Theo đó, công trình thủy điện càng lớn, tác động xâm hại đến môi trường sống càng nhiều.
Ủy ban Thế giới về Đập (WCD) được thành lập, đã tiến hành nghiên cứu, phân tích về ba tác động chính từ các công trình thủy điện. Đó là: thay đổi dòng chảy hạ lưu, tác động bồi lắng và chất dinh dưỡng (hạ lưu các đập chắn sẽ ít phù sa và chất dinh dưỡng gây tác động tiêu cực đến các loài thủy sinh, trong đó có cá); tác động liên quan đến những thay đổi năng suất sinh học sơ cấp của hệ sinh thái.
"Rõ ràng, cái được ít hơn so với cái mất khi triển khai thủy điện trên lưu vực các dòng sông" – theo TS Tứ.
Trong khi đó, ông Nguyễn Hữu Thiện, Trưởng nhóm tư vấn quốc gia Đánh giá môi trường chiến lược 12 đập thủy điện dòng chính Mekong cho hay, trong số 12 thủy điện trên dòng chính, chỉ duy nhất dự án Thakho là 'run-of-river' (cho nước chảy qua và không có đập). 11 dự án còn lại đều có đập chắn giữa dòng chính.
"Việc xây dựng 11 đập chắn sẽ nhấn chìm 25.000ha đất rừng và 8.000ha đất canh tác; các hồ chứa sẽ thay đổi cảnh quan các thung lũng sông Mekong, nước ngập sâu quanh năm; 1.370km2 đất ven sông sẽ bị ngập vĩnh viễn; 150.000ha đất canh tác ven sông sẽ bị ảnh hưởng bởi 996km hồ chứa của 11 đập, làm mất kế sinh nhai của 450.000 gia đình" – ông Thiện cảnh báo.
Thiếu tướng PGS.TS Lê Văn Cương (nguyên Viện Chiến lược và Khoa học, Bộ Công an) dẫn trường hợp đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử, Trung Quốc như "minh chứng" cho nhận định về mặt trái của các đập thủy điện.
Khởi công xây dựng từ năm 1994, hoàn thành và đưa vào vận hành phát điện từ năm 2008, Tam Hiệp là đập thủy điện lớn nhất châu Á với chi phí 24 tỷ USD. Hồ nước cao 185 m, dài 660 km, chứa 39 tỷ m3 nước, công suất hơn 18.000 MW (hơn 9 lần thủy điện Hoà Bình,Việt Nam).
Song đập Tam Hiệp làm ngập hơn 600km2 đất phì nhiêu, chôn vùi 13 thành phố, 140 huyện, 1350 làng mạc trong biển nước và buộc 1,4 triệu người phải bỏ nhà đến định cư chỗ khác.
Chưa vận hành đủ 3 năm, con đập lớn hàng đầu thế giới đã gây ra hậu quả hết sức to lớn về nhiều mặt: môi trường thiên nhiên bị hủy hoại, nước trong hồ chứa khổng lồ (39 tỷ m3) bị ô nhiễm nghiêm trọng và áp suất quá cao đã gây ra nạn lở đất buộc Chính phủ Trung Quốc phải chi 9 tỷ USD để gia cố chống sạt lở.
Đồng bằng sông Dương Tử đang chịu đựng hạn hán tệ hại nhất trong 50 năm qua, chưa kể những tiềm ẩn động đất khi nhiều cơn địa chấn từng xảy ra.
Nếu phát triển thủy điện trên dòng chính của sông Mekong, hầu như mọi quốc gia hạ du đều mất cả chì lẫn chài. Đó là một trong những nhận định được đưa ra tại tọa đàm Đằng sau những con đập thủy điện trên sông Mekong.
Tọa đàm, do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổ chức ngày 2-10 tại TPHCM, ngoài sự tham dự của các diễn giả trong và ngoài nước, còn có các ý kiến đóng góp từ nhiều học giả Mỹ, Úc… thông qua hệ thống videophone.
Theo ông Trịnh Lê Nguyên, đại diện PanNature, việc các quốc gia trong lưu vực chạy đua khai thác, sử dụng nguồn nước sông Mekong cho phát triển thủy điện đã làm dấy lên những quan ngại, phản ứng từ nhiều phía vì hệ lụy môi trường, ảnh hưởng đời sống người dân.

Liệu người dân vùng hạ lưu có còn được hưởng nguồn lợi thủy sản trên sông Mekong. Ảnh: internationalrivers.org
Câu chuyện thủy điện trên dòng chính Mekong dường như mới chỉ là những chi tiết bề nổi của bức tranh phát triển đầy phức tạp của Tiểu vùng Mekong mở rộng, trong đó chứa đựng động cơ và cạnh tranh lợi ích không chỉ của những quốc gia trong lưu vực mà cả các bên liên quan khác, ông nói.
Một tài liệu tại tọa đàm cho thấy, phân tích lợi ích-chi phí trong các kịch bản của kế hoạch phát triển thủy điện lưu vực sông do Ủy ban Sông Mekong Quốc tế (MRC) thực hiện đều dẫn đến kết quả tiêu cực về môi trường và xã hội.
Một báo cáo gần đây do Viện Giải pháp Bền vững thuộc Đại học Portland (Mỹ) phối hợp với Đại học Mae Fah Luang (Thái Lan) thực hiện theo ủy thác của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) còn đưa ra kết quả âm về lợi ích kinh tế.
Trên cơ sở phương pháp của MRC, nhóm nghiên cứu sử dụng những giả thiết và ước tính khác vào mô hình tính toán nhằm phân tích một cách cặn kẽ và chính xác hơn các kịch bản phát triển.
Với kịch bản phát triển tối đa, kết quả lợi ích kinh tế thay đổi từ tổng giá trị hiện tại thuần (net present value-NPV) là dương 33 tỷ USD xuống âm 274 tỷ USD. Trong tất cả kịch bản, Lào luôn có NPV dương, các quốc gia khác trong lưu vực (Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Myanmar) nhận giá trị âm.
Ngay cả Thái Lan, nước được cho sẽ mua điện từ các dự án thủy điện trên dòng chính Mekong và có cơ hội cải thiện điều kiện lưu thông cho tàu thuyền…, cũng phải đối mặt rủi ro kinh tế về sinh kế của cộng đồng ven sông do tổn thất về nghề cá và thiệt hại về đất nông nghiệp.
Đó là còn chưa kể tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến an ninh con người (gồm các thành tố an ninh kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, cá nhân, cộng đồng, chính trị), theo lời ông Timothy Hamlin đến từ Trung tâm Stimson (Mỹ).
Ông Hamlin cảnh báo: Mất an ninh con người có thể không gây ra xung đột vũ trang nhưng dẫn đến những kịch bản mà mọi chính phủ đều phải tìm cách ngăn chặn, giải quyết. Quan điểm này được PGS-TS Lê Văn Cương đến từ Viện Chiến lược và Khoa học (Bộ Công an) chia sẻ.
Theo Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược thủy điện dòng chính Mekong (ICEM2010), thủy điện dòng chính ít có ý nghĩa quan trọng đối với ngành năng lượng của Thái Lan và Việt Nam. Những dự án này chỉ có tác động nhỏ đến giá điện (thấp hơn 1,5%) và ảnh hưởng hạn chế đến các chiến lược cung cấp năng lượng so với quy mô ngành năng lượng hai nước này.
96% nhu cầu điện dự báo đến năm 2025 là từ Thái Lan và Việt Nam và hai nước này có khả năng cần mua đến gần 90% lượng điện sản xuất ra từ các dự án trên dòng chính. Nếu Thái Lan và Việt Nam quyết định không mua lượng điện sản xuất từ dòng chính, thì các dự án này (tất cả đều được thiết kế để xuất khẩu) sẽ có khả năng không thể triển khai.
Cho đến cuối thế kỷ 20, Mekong vẫn là một trong số ít những con sông lớn chưa bị ngăn đập trên phần lớn dòng chảy. Cuối những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch xây ít nhất 7 đập thủy điện trên thượng nguồn Mekong và đến nay đã hoàn thành và đưa vào vận hành 4 đập.
Cùng thời gian này, Lào và Campuchia bắt đầu lập kế hoạch xây dựng 12 đập trên dòng chính. Các dòng nhánh của sông Mekong cũng đã và đang được khai thác cho thủy điện. Dự tính đến năm 2015 sẽ có 36 đập ở các dòng nhánh được đưa vào vận hành và tới năm 2030 sẽ còn có thêm 30 đập thủy điện nữa được triển khai trên các dòng nhánh.
(Nguồn: tài liệu "Thủy điện Mekong: ai được, ai mất?" – PanNature)
Theo thống kê, chỉ riêng Lào Cai đã có 110 dự án thủy điện vừa và nhỏ, Quảng Nam 61 dự án, Kon Tum 68 dự án, Gia Lai 78 dự án, Lâm Đồng 71 dự án…
Read more →“Làm sao để ngành công nghiệp khai thác khoáng sản thực sự đóng góp được cho thành tựu xóa đói giảm nghèo?”, bà Trần Thị Thanh Thủy, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (CN&TN) trăn trở sau cuộc khảo sát hoạt động khai thác các mỏ khoáng sản tại các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Lào Cai, Lâm Đồng và Đắk Lắk…
Tỉ lệ hộ nghèo tăng vì… có mỏ
“Xóa đói giảm nghèo là một trong những thành tựu quan trọng và ấn tượng của Việt Nam trong hơn 20 năm qua. Tỉ lệ số hộ nghèo đói trên toàn quốc đã giảm nhanh từ 58% cuối thập niên 80 xuống dưới 16% trong giai đoạn 1993 – 2006”, đại diện Trung tâm CN&TN đánh giá. Tuy nhiên, kết quả khảo sát hoạt động khai thác các mỏ khoáng sản tác động đến con người và thiên nhiên lại cho thấy, tại mỏ quặng sắt xã Tân Pheo (tỉnh Hòa Bình), triển khai khai thác năm 2007 đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống người dân xóm Phổn và thôn Lùng Thùng. Tại đây, doanh nghiệp thu hồi 7 ha đất ruộng và đất rừng của hơn 40 hộ dân và bồi thường với mức giá chỉ từ 1.000 – 4.000 đồng/m2. Doanh nghiệp khai thác mỏ này cũng chỉ nhận vỏn vẹn 5 lao động và xây cho xã một nhà văn hóa trị giá 5 triệu đồng.

Một điểm khai thác quặng chưa hoàn thổ, làm ảnh hưởng đến môi trường. Ảnh: Lê Bá Liễu-TTXVN
Cho đến nay, 40 hộ dân bị thu hồi đất trên không có sinh kế ổn định. Không chỉ đời sống những hộ dân trực tiếp mất đất mới bấp bênh, mà cộng đồng người dân xóm Phổn và thôn Lùng Thùng cũng phải hứng chịu quặng sắt, đất, đá thải từ khu vực khai thác trôi xuống san lấp ruộng. Nguồn nước chính của xã cũng bị đất đá trôi lấp và bồi cạn cục bộ, dòng chảy bị thu hẹp nên tiềm ẩn nguy cơ lũ quét khi có mưa lớn.
Từ lãnh đạo địa phương, các tổ chức hội phụ nữ, thanh niên và cộng đồng dân cư trong và ngoài khu vực mỏ Tân Pheo đều cho rằng, hoạt động khai thác quặng sắt làm cho đời sống, môi trường trong khu vực đi xuống, điều có thể trông thấy là đường sá xuống cấp. Còn tỉ lệ hộ nghèo của xã Tân Pheo thì tăng lên đáng kể sau khi dự án triển khai tại đây.
Cuộc nghiên cứu của Trung tâm CN&TN tại các địa phương có mỏ như Ea Sar (Đắk Lắk), Sơn Thủy (Phú Thọ), Cốc Mỳ (Lào Cai)… phản ánh, mức giá đền bù thu hồi đất để khai thác mỏ của doanh nghiệp đối với người dân rất thấp, cao nhất là 11.000 đồng/m2 và thấp nhất là 1.000 đồng/m2. Các địa phương này đều chịu chung những tổn thất như đường sá, cầu cống xuống cấp, nguồn nước, môi trường sống bị ô nhiễm… Các đóng góp của doanh nghiệp khai thác mỏ đối với địa phương là rất nhỏ so với các tác động tiêu cực từ khai thác mỏ gây ra trong khu vực. Bản nghiên cứu cũng cho biết, theo mô hình phân tích thống kê SPSS (phần mềm phân tích thống kê về mối tương quan giữa các số liệu kinh tế), mối quan hệ giữa khai thác khoáng sản và giảm nghèo đang trái chiều.
Ông Lại Hồng Thanh, Cục trưởng Cục Quản lý hoạt động khai thác khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường thừa nhận, hiện tượng doanh nghiệp thiếu trách nhiệm chỉ xảy ra phổ biến ở các doanh nghiệp khai thác mỏ có quy mô nhỏ cấp địa phương. Nguyên nhân là ở những khu mỏ này, do chính quyền địa phương cấp quyền khai thác mỏ với thời hạn quá ngắn (5 – 7 năm), trong khi các doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận bằng cách đầu tư ít, khai thác kiểu “đánh nhanh, thắng nhanh” rồi rút… nên các nghĩa vụ đối với địa phương, bảo vệ môi trường bị coi nhẹ.
Luật mới giải quyết được bao nhiêu bất cập?
Theo ông Lại Hồng Thanh, Luật Khoáng sản mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 sẽ giải quyết được nhiều bất cập trong thực tiễn. Ví dụ việc từ nay tổ chức, cá nhân muốn khai thác khoáng sản, bên cạnh các khoản phải nộp như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường… phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.
Thực tế trước ngày 1/7/2011, Nhà nước giao mỏ cho DN nhưng không thu tiền quyền khai thác. Nay với luật mới, Nhà nước sẽ thu quyền khai thác này. Đây là điểm mới căn bản giữa Luật Khoáng sản mới và Luật Khoáng sản trước kia.
Mức thu có thể dựa trên trữ lượng mỏ, sản lượng khai thác hoặc giá trị khoáng sản. Cách thu cũng có nhiều phương án, thu một lần, 5 năm/lần hoặc 1 năm/lần để tùy tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản lựa chọn.
“Tiền cấp quyền khai thác này sẽ áp dụng cho cả DN được cấp mỏ mới cũng như các DN đang khai thác mỏ. DN đang khai thác khoáng sản thì phải nộp tiền cấp quyền khai thác đối với trữ lượng khoáng sản còn lại chưa khai thác, tính từ ngày 1/7/2011. Dự kiến số tiền thu được từ khoản này của các mỏ đang khai thác hiện nay khoảng từ 5.000 – 7.000 tỉ đồng…”, ông Thanh cho biết.
Trong Luật mới cũng ghi rất rõ các cá nhân, tổ chức khi khai thác khoáng sản phải hỗ trợ chính quyền địa phương những nội dung gì. Ví dụ, tới đây, trong một đề án khai thác mỏ, tổ chức, cá nhân muốn khai thác mỏ phải xây dựng một số công trình để phục vụ việc khai thác mỏ, kể cả những công trình ở ngoài mỏ. Bên cạnh đó, phải sử dụng lao động địa phương vào các hoạt động của mỏ cũng như các dịch vụ liên quan. Trước đây việc này cũng có quy định nhưng chưa rõ nên DN có thể lảng tránh hay làm đối phó.
“Đặc biệt trong Luật Khoáng sản mới cũng ghi rõ, nếu DN gây thiệt hại thì phải bồi thường. Ví dụ, nếu việc khai thác của tổ chức, cá nhân gây hỏng đường, cầu cống… dù tuyến đường này là 20 hay 50 km thì cũng phải bỏ tiền ra sửa chữa chứ không thể có chuyện xe chở quặng gây hỏng cả tuyến đường mà không có trách nhiệm!”, ông Thanh nói.
Đây là câu hỏi của ông Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Hội Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam), muốn gửi đến Bộ trưởng Bộ NN-PTNT
* Phóng viên: Sau quá trình khảo sát, Trung tâm Con người và thiên nhiên nhận ra điều gì từ sự “bùng nổ” thủy điện hiện nay?
- Ông Nguyễn Việt Dũng: Cụ thể là ở Lào Cai, Lâm Đồng, Đồng Nai, Quảng Nam, chúng tôi làm việc với sở, ban, ngành liên quan, ban quản lý các khu bảo tồn, vườn quốc gia và chính các chủ đầu tư. Thực tế, chúng tôi nhận thấy các sở, ban, ngành tham mưu cho UBND các tỉnh thường không dám “cãi” chủ trương phát triển thủy điện của tỉnh và thường nói kiểu nước đôi như “ủng hộ chủ trương phát triển sản xuất điện là đúng đắn và khẳng định làm theo đúng luật”. Còn các ban quản lý khu bảo tồn, vườn quốc gia rất yếu thế trong việc ngăn chặn sự “tấn công” của thủy điện.
Tôi cho rằng hiện nay, quy định pháp luật đang tạo điều kiện cho UBND các tỉnh thao túng việc chuyển đổi rừng đặc dụng. Bộ NN-PTNT làm chưa hết trách nhiệm.
* Nhưng các dự án thủy điện đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường?
- Đúng là quy định có bắt buộc nhưng không bảo đảm chắc chắn việc báo cáo có đánh giá tác động đầy đủ trên các mặt từ xã hội, hệ sinh thái… Đáng nói là trong báo cáo đánh giá tác động môi trường không có sự tham vấn của các tổ chức ngoài Nhà nước, các đơn vị độc lập, tổ chức phi chính phủ, người dân… nên không thể xác đáng. Tôi cho rằng không có báo cáo đánh giá tác động môi trường nào thực sự nghiêm túc.
Báo cáo đánh giá tác động môi trường dễ bị làm giả vì hiện nay, pháp luật chưa quy định chặt chẽ đơn vị nào mới được làm việc này như phải có chứng nhận hành nghề. Đặc biệt là hiện nay báo cáo đánh giá tác động môi trường lại do chủ đầu tư bỏ tiền thuê đơn vị tư vấn thì sẽ không có đơn vị tư vấn nào đi làm tổn hại người thuê mình cả. Báo cáo sau đó được đưa lên Hội đồng Thẩm định cấp tỉnh – đây là nút chặn quan trọng để dự án có được thông qua hay không. Có điều hội đồng này lại không bị pháp luật ràng buộc trách nhiệm nên khi dự án có vấn đề cũng chẳng ai chịu trách nhiệm. Các nước thì khác, họ có tòa án môi trường và hệ thống pháp luật rất cụ thể để quy rõ trách nhiệm các bên liên quan.
* Đơn vị tư vấn, quy hoạch hệ thống phát điện đề xuất là một chuyện, còn việc quyết cho làm hay không phải là Bộ Công Thương, NN-PTNT, Tài nguyên-Môi trường, chính quyền địa phương…?
- Đúng là như vậy. Nhưng có bất cập hiện nay là đơn vị tư vấn quy hoạch và tư vấn xây dựng thủy điện lại là “một địa chỉ”. Đơn vị vẽ ra quy hoạch thủy điện thì sau này lại làm tư vấn kỹ thuật từng dự án cụ thể. Chính lợi ích sát sườn nên quy hoạch tràn lan thủy điện là khó tránh khỏi.
* Có nhiều ý kiến cho rằng nhiều chủ đầu tư làm thủy điện chủ yếu nhắm tới khai thác gỗ?
- Đúng là có việc này. Tôi muốn gửi câu hỏi này đến Bộ trưởng Bộ NN-PTNT là “đến nay bộ đã có tổng hợp, rà soát xem thủy điện làm mất bao nhiêu rừng, đặc biệt là rừng đặc dụng”. Vì từ rà soát chính xác mới có quy hoạch về thủy điện cũng như quy hoạch phát triển rừng.
| 1 MW điện đổi 62,63 ha rừng
Theo nghiên cứu “Phát triển thủy điện và hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam”, cả nước có 47/128 rừng đặc dụng có sự hiện hữu ngay trong lòng hoặc tác động từ bên ngoài của 119 dự án thủy điện lớn, nhỏ. Như vậy, trung bình mỗi vườn quốc gia, khu bảo tồn “cõng” khoảng 2,5 dự án thủy điện. Có được 1 MW điện sẽ mất 62,63 ha diện tích đất rừng và rừng đặc dụng. |
Tại buổi hội thảo “Sông ngòi Việt Nam: Góc nhìn của cộng đồng và thực tiễn chính sách” tổ chức ngày 24/5 tại Hà Nội; Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã công bố kết quả khảo sát trên diện rộng ý kiến của cộng đồng, chính quyền địa phương về tác động của phát triển đối với sông ngòi, tài nguyên nước và ảnh hưởng sinh kế trên hệ thống LVS ở nhiều khu vực trên cả nước
Read more →Các chuyên gia, nhóm nghiên cứu chỉ rõ: Trong tất cả các khâu của ngành khai khoáng đều tiềm tàng nguy cơ tham nhũng và khuyến nghị các biện pháp phòng ngừa.
Ngày 17-5, Thanh tra Chính phủ phối hợp với Đại sứ quán Thụy Điển (đại diện cho các nhà tài trợ) tổ chức hội nghị bàn tròn về tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam. Tham luận của các cơ quan cho thấy ngành khoáng sản có khá nhiều sơ hở, có nguy cơ dẫn tới tham nhũng.
Lỏng lẻo ở mọi khâu quản lý
Theo ông Lê Thế Chiến, Vụ phó Vụ I – Thanh tra Chính phủ, ở khâu ban hành văn bản, một số địa phương đã ra những quy định trái luật, như buộc tất cả trường hợp xin cấp phép hoạt động khoáng sản phải có ý kiến đồng ý của UBND tỉnh thì Sở Tài nguyên và Môi trường mới được tiếp nhận hồ sơ. Thủ tục này tạo độc quyền, xin – cho, gây phiền hà cho doanh nghiệp.
Ở khâu cấp phép, một số địa phương không xây dựng quy trình, thủ tục, làm kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Luật quy định chủ đầu tư phải lập báo cáo tác động môi trường làm cơ sở cấp phép khai khoáng nhưng có tỉnh cho bỏ qua thủ tục này và thay bằng bản cam kết bảo vệ môi trường.
Đến khi mỏ hoạt động thì quản lý nhà nước lại thiếu chặt chẽ. Môi trường bị xâm hại, gây căng thẳng, tranh chấp với cộng đồng dân cư nơi có mỏ. Đáng chú ý, nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra do buông lỏng quản lý. Tại Nghệ An, năm 2008 xảy ra vụ sập mỏ đá Bản Vẽ làm chết 18 người, đến tháng 4 vừa rồi, mỏ đá lèn Cờ sạt lở, vùi chết 18 người.
Nguy cơ móc ngoặc và những dấu hiệu bất thường
Trong các sơ hở, sai phạm nói trên, một phần do pháp luật về khoáng sản quá lạc hậu và đến năm 2010, Quốc hội đã khắc phục bằng Luật Khoáng sản mới. Tuy nhiên, nghiên cứu của nhóm chuyên gia pháp lý độc lập – ĐH Luật Hà Nội (do TS Vũ Thu Hạnh trình bày) cho thấy luật mới vẫn còn những khu vực chứa đựng nguy cơ tham nhũng bắt nguồn từ chính con người.
Chẳng hạn, khi lập quy hoạch hoạt động khoáng sản, doanh nghiệp (DN) có thể tác động vào người lập quy hoạch theo hướng có lợi cho mình hoặc tác động để “nắn” quy hoạch. Thậm chí, ngay trong quy hoạch cũng có thể có những cơ hội tham nhũng khi điều chỉnh quy hoạch, cấp phép, đấu giá quyền khai khoáng. Những nguy cơ trên có thể thành hiện thực khi có dấu hiệu quy hoạch mở rộng hoặc hạn chế quá mức khu vực hoạt động khoáng sản hay vừa điều chỉnh quy hoạch xong là cấp phép cho DN theo nội dung điều ngành luôn.
Đấu giá quyền khai khoáng là nội dung khá mới trong Luật Khoáng sản 2010. Tuy nhiên, cơ chế đấu giá cũng ẩn chứa những nguy cơ tham nhũng, bắt nguồn từ chính đội ngũ cán bộ công quyền. Hoàn toàn có thể xảy ra móc nối giữa DN với người tổ chức đấu giá bằng cách đưa vào những tiêu chuẩn lựa chọn bất thường hoặc xét tuyển quá chặt không có lý do chính đáng.
Cũng theo nhóm chuyên gia, đặc điểm của hoạt động khoáng sản là DN tham gia từ A tới Z. Ở bước thăm dò, chủ đầu tư có thể báo cáo trữ lượng thấp hơn thực tế, để hưởng lợi khi khai thác. Hoặc lợi dụng sơ hở trong quản lý, họ xin phép thăm dò nhưng thực chất là khai thác bán kiếm lời… Biểu hiện của những gian lận ấy có thể là việc sử dụng máy móc khai thác trong khâu thăm dò; thời gian thăm dò kéo dài bất thường; đầu tư quá mức so với trữ lượng được báo cáo.
Giàu tài nguyên vẫn có thể nghèo
Các báo cáo, tham luận chỉ ra nguy cơ tham nhũng trong lĩnh vực khai khoáng rất lớn, nếu cơ quan quản lý không nhận thức đầy đủ và có giải pháp thích hợp, quyết liệt sẽ khó có thể biến tài nguyên thành nguồn lực quốc gia. Các tham luận cảnh báo: Việt Nam có thể đi vào lối mòn của những quốc gia giàu tài nguyên nhưng quản trị kém. Nghiên cứu của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) cho thấy những quốc gia có tỉ trọng GDP từ khoáng sản càng lớn thì tỉ lệ nghèo đói càng cao. Chẳng hạn như ở Guinea, khoáng sản đóng góp gần 70% GDP thì đói nghèo chiếm tới 85% dân số; Zambia hơn 64% GDP từ khai khoáng thì có tới 74% dân số đói nghèo.
Để tránh vết xe đổ ấy, báo cáo độc lập của PanNature khuyến nghị Chính phủ xây dựng tiêu chuẩn sàng lọc để loại bỏ những dự án khai khoáng không hiệu quả; thắt chặt quy trình cấp phép. Cần xây dựng hệ thống phân bổ hợp lý nguồn thu khai khoáng từ trung ương đến cấp xã nơi có mỏ để khuyến khích các cấp quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên. Ngoài ra, pháp luật cũng như thực thi về quản lý khai khoáng cần chú trọng hệ thống giám sát tuân thủ quy định môi trường; thắt chặt việc phê duyệt đánh giá tác động môi trường, tham vấn cộng đồng nơi có mỏ.
Chúng ta tuyên bố khoáng sản là tài sản toàn dân nhưng người muốn khai thác chỉ cần xin giấy phép, nộp một ít phí môi trường là biến khu vực khai thác khoáng sản đó thành tài sản tư. Tôi không thuộc hạng quan chức có quyền thế gì nhưng nhiều người cứ hỏi có quen ông nọ ông kia không để giúp người ta xin giấy phép. Người ta sẵn sàng chi ra mấy tỉ.
Ông TRẦN ĐÌNH NHÃ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội phát biểu tại kỳ họp Quốc hội năm 2010
Thu hút sự tham gia của các tổ chức cộng đồng được xem là một trong những con đường hứa hẹn đối với công tác quản lý rừng đặc dụng. Tuy nhiên, sự thành công của các mô hình quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng trong thực tế dường như chưa đủ để tạo nên một hiệu ứng khiến nó có thể được áp dụng rộng rãi. Chính vì lẽ đó, dẫu đã được bàn thảo qua nhiều năm, nhưng đến nay câu chuyện này vẫn chưa ngã ngũ.
Đề tài này lần nữa được xới xáo lại tại hội thảo chính sách “Tổ chức cộng đồng phối hợp quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Hoang dã Quốc tế (FFI) phối hợp tổ chức tại Hà Nội sáng ngày 28/04/2011.

Vấn đề sinh kế cho người dân sinh sống trong phân khu bảo vệ của rừng đặc dụng được các chuyên gia và những tổ chức phi chính phủ quan tâm nhất tại hội thảo này. Ảnh: PanNature.
Kết quả rà soát rừng đặc dụng gần đây nhất cho biết nước ta hiện có khoảng 2,2 triệu ha rừng đặc dụng. Áp lực lên các khu rừng đặc dụng hiện rất lớn, trong đó, một phần nguyên nhân quan trọng là do chưa gắn kết được cộng đồng dân cư vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Khác với rừng sản xuất và rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy định rất chặt chẽ, nghiêm cấm việc khai thác trong vùng rừng bảo vệ nghiêm ngặt, cũng là vùng có giá trị đa dạng sinh học tập trung cao nhất.
Tuy nhiên, trong thực tế các điều khoản quy định của pháp luật không thể ngăn nhu cầu sử dụng gỗ, lâm sản và sự xâm phạm của nhiều cộng đồng sống xung quanh hoặc trong các khu rừng đặc dụng. Điều này cũng gắn liền với nghịch lý lâu nay là càng ở vùng rừng có giá trị đa dạng sinh học cao, dân cư càng nghèo.
Các chia sẻ từ hội thảo một lần nữa khẳng định việc thu hút các tổ chức cộng đồng phối hợp tham gia quản lý rừng đặc dụng là rất cần thiết và khả thi. Người dân cần được hưởng lợi từ rừng và ngược lại cũng phải có trách nhiệm với rừng. Các ban quản lý và kiểm lâm không thể thành công nếu họ “cô đơn” giữ rừng.
Bài học từ Ban quản lý VQG Xuân Sơn là một ví dụ điển hình. Vượt qua được những khó khăn ban đầu của những năm 2004 -2005, Xuân Sơn đã thu nhận được kết quả tích cực từ việc mạnh dạn giao rừng cho cộng đồng. Đến đầu năm 2011, Vườn đã giao khoáng bảo vệ hơn 9.800 ha rừng, trong đó có 8.700 ha rừng tự nhiên, cho 16 cộng đồng, 13 tổ chức, 17 nhóm hộ và 21 chủ hộ. Phó giám đốc VQG Xuân Sơn cho biết trong 7 năm qua, trên địa bàn Vườn không có vụ cháy rừng và phá rừng, độ che phủ rừng năm 2010 là 76%, so với năm 2002 là 56%.
Cũng tại Hội thảo, Dự thảo “Quyết định về chính sách thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng” đã được đưa ra bàn luận và được rất nhiều đại biểu tham gia đóng góp ý kiến. Dự thảo đang trong quá trình rà soát, sau đó sẽ được trình Thủ tướng chính phủ.
Nguồn: ThienNhien.Net