Tư liệu

Bảo tồn cây thuốc Việt Nam

Video do Chương trình Việt Nam Xanh của kênh VTV2 (Đài Truyền hình Việt Nam) thực hiện. Có một số hình ảnh và các nội dung liên quan đến Hội thảo “Bảo tồn và Phát triển bền vững nguồn Tài nguyên Cây thuốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” do PanNature phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây thuốc dân tộc cổ truyền (CREDEP), Hội Đông y tỉnh Cao Bằng và Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh Cao Bằng tổ chức vào ngày 24-25/3/2011 tại Cao Bằng.

 

Bản tin Chính sách Quý 4 năm 2011

Chiến lược nào cho bối cảnh biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên?

Những tháng cuối năm 2011, nhiều sự kiện và chính sách quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đang ngày càng khan hiếm đã được bàn luận và quyết định. Ở phạm vi toàn cầu, Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 17 (COP-17) tổ chức tại Durban, Nam Phi từ ngày 28/11 đến ngày 11/12 được xem là một trong những sự kiện nóng bỏng và gay gắt nhất trong lịch sử. Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành các chiến lược quan trọng về ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) và quản trị tài nguyên khoáng sản. Tháng 12/2011 đã ghi nhận sự kiện quan trọng về cuộc họp cấp Hội đồng của Ủy hội sông Mê-kông (MRC) của Bộ trưởng tài nguyên và môi trường các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam tại Siem Reap (Campuchia) với quyết định trì hoãn xây đập Xayaburi tại Lào để nghiên cứu sâu hơn tác động của phát triển thủy điện trên dòng chính, hướng tới phát triển và quản lý bền vững sông Mê-kông, đáp lại nguyện vọng của người dân sống trong lưu vực.

Hội nghị COP-17 đã phải kéo dài thêm hai ngày so với kế hoạch dự kiến, tuy nhiên các kết quả đạt được rất hạn chế, thể hiện qua văn kiện tổng kết có tiêu đề Durban Platform for Enhanced Action (Tạm dịch: Khung hành động Durban). Theo đó, COP-17 tuyên bố tất cả các quốc gia đều phải tuân thủ cam kết về một hiệp định ràng buộc pháp lý đối với việc cắt giảm lượng phát thải dự kiến sẽ được thông qua năm 2015 và bắt đầu có hiệu lực từ năm 2020. Khung hành động Durban đã làm hài lòng nhiều quốc gia có mức độ phát thải lớn. Hoa Kỳ, quốc gia phát triển duy nhất không tham gia Nghị định thư Kyoto, đã lý giải cho sự vắng mặt của mình là mọi nỗ lực hạn chế phát thải chung sẽ không thành công khi thiếu vắng hai nước lớn và Trung Quốc và Ấn Độ. Còn Trung Quốc và Ấn Độ khẳng định không hy sinh mục tiêu phát triển kinh tế cho việc cắt giảm phát thải khí nhà kính ít nhất cho tới năm 2020. Bên cạnh đó, Nga, Canada và Nhật Bản lại tuyên bố không tham gia giai đoạn 2 của Nghị định thư Kyoto do những khó khăn về tài chính và đòi hỏi khắt khe của việc cắt giảm khí thải trong bối cảnh kinh tế phục hồi chậm chạp sau khủng hoảng. Như vậy, chỉ còn lại Liên minh Châu Âu (EU) đơn thương độc mã trong cuộc chiến cắt giảm phát thải khí nhà kính. Do đó, COP-17 đã lựa chọn giải pháp mềm dẻo là tiếp tục dành 4 năm (2012 – 2015) để thảo luận về khung cam kết mới và 5 năm tiếp theo (2016-2020) để ký thông qua khung pháp lý này trước khi chính thức đưa vào thực hiện sau năm 2020.

Bản tin Chính sách Quý 4/2011. Nhấn vào hình để tải về (File PDF, 4,07MB)

Trong bối cảnh mức độ cam kết của các quốc gia phát triển về giảm phát thải trở nên lỏng lẻo, thì Việt Nam tiếp tục khẳng định nỗ lực và quyết tâm của mình về ứng phó với BĐKH. Ngày 05/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 2139/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu, bao hàm các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược và lộ trình các giai đoạn thực hiện từ 2011 đến 2050, kèm theo các chương trình, đề án ưu tiên xác định cho giai đoạn 2011-2015. Mười nhiệm vụ chiến lược đã được xác định như chủ động ứng phó với thiên tai và giám sát khí hậu; đảm bảo an ninh lương thực và tài nguyên nước; ứng phó tích cực với nước biển dâng phù hợp các vùng dễ bị tổn thương; bảo vệ và phát triển bền vững rừng; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; tăng cường vai trò chủ đạo của nhà nước trong ứng phó với BĐKH, …

Trong lĩnh vực quản trị tài nguyên khoáng sản, nhà nước tiếp tục can thiệp và ban hành các chính sách nhằm tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động khoáng sản. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Nghị quyết 103/NQ-CP ngày 22/12/2011 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 25/04/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết về Thành lập Đoàn giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường. Mục đích của Đoàn giám sát là nhằm đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản và đề xuất các giải pháp thực hiện tốt hơn các chính sách và pháp luật liên quan. Theo dự kiến, Đoàn giám sát có trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch giám sát và báo cáo kết quả giám sát với Ủy ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 8 năm 2012. Chi tiết các chính sách quan trọng nói trên được trình bày trong các phần tiếp theo của Bản tin Chính sách này.

Tải Bản tin Chính sách Quý 4 năm 2011 (File PDF, 4,07MB)

Tin truyền hình về Diễn đàn Tài nguyên Mê Kông

Giới thiệu Hiến chương về tài nguyên thiên nhiên

Hiến chương về tài nguyên thiên nhiên (NRC) là bộ nguyên tắc nhằm hướng dẫn các chính phủ và xã hội dân sự về phương thức sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm mang lại lợi ích tối đa cho phát triển kinh tế cũng như đảm bảo quyền lợi cho mỗi công dân. Hiến chương ghi rõ các công cụ và lựa chọn chính sách được thiết kế nhằm hạn chế những yếu kém trong quản lý của cải thiên nhiên giàu có và đảm bảo lợi ích thiết thực từ nguồn tài sản này.

Read more →

Bản tin Chính sách Quý III/2011

Trong quý III/2011, đã có khoảng 50 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và hành chính đáng chú ý, trực tiếp liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững do Chính phủ và các bộ, ngành ban hành. Những vấn đề chính được đề cập là các kế hoạch, đề xuất và biện pháp bảo vệ rừng, thông qua quy hoạch các vườn quốc gia quan trọng, thể chế hoá và ban hành các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên khoáng sản, sử dụng năng lượng tiết kiệm và áp dụng các công cụ xử phạt hành chính, thuế, phí trong quản lý tài nguyên và môi trường.

Một chính sách nổi bật là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tạm dừng việc cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản trên phạm vi cả nước kể từ ngày 30/8/2011, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành liên quan tiến hành báo cáo hiện trạng quy hoạch, thăm dò, khai thác, chế biến và xuất khẩu các loại khoáng sản để nhà nước chấn chỉnh và tăng cường các biện pháp quản lý. Cùng với chỉ đạo này, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, đồng thời tiến hành lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Trong quý này Chính phủ đã ban hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường. Từ ngày 01/01/2012 khi Nghị định này có hiệu lực thì các quy định về khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường sẽ được áp dụng cho các đối tượng là xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch, gas dùng cho thiết bị lạnh và công nghiệp bán dẫn, một số loại túi (nhựa) nilon, thuốc diệt cỏ và thuốc trừ mối. Trong lĩnh vực năng lượng, ngày 21/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (còn gọi là Quy hoạch điện VII), theo đó mục tiêu phát triển điện năng đến năm 2020 vẫn tập trung cho nhiệt điện than và thuỷ điện (chiếm hơn 70% tổng công suất). Song hành cùng chính sách này là quy định của nhà nước về mức xử phạt vi phạm hành chính về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo Nghị định 73/2011/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/10/2011. Và một trong những nhóm đối tượng chính bị điều chỉnh bởi Nghị định này chính là 1190 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trên toàn quốc (đến năm 2011) đã được xác định bởi Quyết định 1294/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01/8/2011.

Bên cạnh một số hướng dẫn cụ thể về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, quy trình kỹ thuật quan trắc các thành phần môi trường, trong quý III/2011 Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành (thông tư) quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và danh mục loài ngoại lai xâm hại ở Việt Nam.

Trong lĩnh vực quản trị rừng và bảo tồn thiên nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững của 4/6 vườn quốc gia do Bộ trực tiếp quản lý (Tam Đảo, Cát Tiên, Bạch Mã và Cúc Phương); công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2010; đồng thời tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 1685/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ. Ngoài ra, Bộ này cũng đang tiếp tục các nỗ lực phối hợp triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; điều tra và kiểm kê rừng tại Bắc Kạn và Hà Tĩnh (điểm mẫu); và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2012 và giai đoạn tiếp theo. Chi tiết các chính sách quan trọng nêu ở trên được trình bày trong các phần tiếp theo của Ban tin Chính sách này.
 

Khủng hoảng kinh tế và quản lý tài nguyên

Mặc dù các quốc gia giàu tài nguyên không phải chịu những ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới do ít phải tiếp cận với thị trường vốn quốc tế, nhưng cuộc khủng hoảng này lại có những tác động bất lợi đối với khu vực sản xuất của nền kinh tế (real sector of economy). Đặc biệt, những nền kinh tế này rất dễ bị tổn thương bởi sự lệ thuộc vào nguồn thu tài chính và giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp khai thác.

Read more →

Khía cạnh tài chính trong công nghiệp khai thác

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngành công nghiệp khai thác ra đời và vận hành dựa trên mối quan hệ giữa chính phủ quốc gia đối với khối doanh nghiệp tư nhân.Các điều khoản liên quan đến tài chính, có ảnh hường đến mối quan hệ trên thường có nội dung liên quan đến lợi nhuận cũng như các rủi ro về tài chính từ các dự án khai thác mà sẽ không được chia đều cho tất cả các bên liên quan. Các điều khoản này có thể được quy định trong hệ thống luật, chính sách của các quốc gia và được áp dụng đối với tất cả các dự án hoạt động trong phạm vi quốc gia đó. Bên cạnh đó, những điều khoản liên quan đến tài chính cũng có thể được quy định trong các hợp đồng cụ thể, trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của một bên liên quan hoặc của cả dự án.

Read more →

Thủy điện Mê Kông: Ai được, ai mất?

Mê Kông là con sông lớn thứ 12 trên thế giới với chiều dài hơn 4800 km chảy qua sáu quốc gia (Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Căm-pu-chia và Việt Nam), tạo ra một lưu vực rộng hơn 795.000 km2 (MRC 2011). Lưu vực Hạ Mê Kông ở Thái Lan, Lào, Căm-pu-chia và Việt Nam với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú là nơi sinh sống của hơn 60 triệu người, thuộc hơn 100 dân tộc khác nhau, trong đó đa số là nông dân và ngư dân nghèo sống dựa vào dòng Mê Kông.

Cho đến cuối thế kỷ 20, Mê Kông vẫn là một trong số ít những con sông lớn chưa bị ngăn đập trên phần lớn dòng chảy. Cuối những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch xây ít nhất 7 đập thủy điện trên thượng nguồn Mê Kông và đến nay đã hoàn thành và đưa vào vận hành 4 đập. Cùng thời gian này, Lào và Căm-pu-chia bắt đầu lập kế hoạch xây dựng 12 đập trên dòng chính. Các dòng nhánh của sông Mê Kông cũng đã và đang được khai thác cho thủy điện. Dự tính đến năm 2015 sẽ có 36 đập ở các dòng nhánh được đưa vào vận hành và tới năm 2030 sẽ còn có thêm 30 đập thủy điện nữa được triển khai trên các dòng nhánh (Stone 2011).

Việc các quốc gia trong lưu vực chạy đua khai thác và sử dụng nguồn nước sông Mê Kông cho phát triển thủy điện đã dấy lên nhiều quan ngại cũng như phản ứng từ nhiều phía về những hệ lụy lên môi trường và cuộc sống con người. Trước sức ép của cuộc đua tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh năng lượng, lợi ích kinh tế đang trên đà thắng thế khi cân nhắc sự đánh đổi.

Câu chuyện thủy điện trên dòng chính Mê Kông dường như mới chỉ là những chi tiết bề nổi của bức tranh phát triển đầy phức tạp của tiểu vùng Mê Kông mở rộng, trong đó chứa đựng những động cơ và cạnh tranh lợi ích không chỉ của những quốc gia trong lưu vực mà cả các bên có liên quan khác. Tài liệu này cố gắng tổng hợp những thông tin cơ bản xung quanh câu chuyện thủy điện Mê Kông và lợi ích cũng như thiệt hại của các bên liên quan, đặc biệt là hàng triệu người nghèo sống dựa vào nguồn tài nguyên phong phú của con sông này.

ĐỌC TRỰC TUYẾN

Tải bản PDF (2,21 MB) >>

Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính Mê Kông

Báo cáo Đánh giá Môi trường Chiến lược (SEA) đối với những đề xuất dự án phát triển thủy điện trên dòng chảy chính Sông Mê Kông được Ủy hội Sông Mê Kông (MRC) công bố vào tháng 10/2010. Bản báo cáo này được thực hiện trong vòng 14 tháng, đánh giá sâu về tác động của các dự án thủy điện trên dòng chính đến tổng thể môi trường của sông Mê Kông, đồng thời đưa ra những khuyến nghị cho các nước thành viên trong trường hợp các nước này quyết định tiến hành các dự án phát triển thủy điện như đề xuất.

Sông Srepok, dòng nhánh của sông Mê Kông, đoạn chảy qua Căm-pu-chia. Ảnh: PanNature.

Bản báo cáo đầy đủ bằng tiếng Anh và bản báo cáo tóm tắt bằng tiếng Việt đã được MRC công bố trên website. Xin tham khảo các đường dẫn dưới đây để tải các tài liệu này.

Bản dịch tiếng Việt đầy đủ của bản gốc Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược bằng tiếng Anh do Trung tâm Nghiên cứu Rừng và Đất ngập nước (FORWET) thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thực hiện trong khuôn khổ dự án “nâng cao nhận thức địa phương về tác động của các đập thủy điện dòng chính Mekong đối với ĐBSCL”  do McKnight tài trợ.

Các vấn đề liên quan đến bản dịch tiếng Việt này xin trao đổi với ông Nguyễn Hữu Thiện, Email: savingwetlands@gmail.com.

Trung tâm Con người và Thiên nhiên xin chân thành cảm ơn FORWET và ông Nguyễn Hữu Thiện đã cho phép chúng tôi đăng tải toàn văn bản dịch báo cáo SEA này.

Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số nhà 6 N8B, Khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính,
Đường Nguyễn Thị Thập, phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
ĐT: 04 3556-4001 | Fax: 04 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn