Ấn phẩm

Bản tin Chính sách Quý 4 năm 2011

Chiến lược nào cho bối cảnh biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên?

Những tháng cuối năm 2011, nhiều sự kiện và chính sách quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đang ngày càng khan hiếm đã được bàn luận và quyết định. Ở phạm vi toàn cầu, Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu lần thứ 17 (COP-17) tổ chức tại Durban, Nam Phi từ ngày 28/11 đến ngày 11/12 được xem là một trong những sự kiện nóng bỏng và gay gắt nhất trong lịch sử. Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành các chiến lược quan trọng về ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) và quản trị tài nguyên khoáng sản. Tháng 12/2011 đã ghi nhận sự kiện quan trọng về cuộc họp cấp Hội đồng của Ủy hội sông Mê-kông (MRC) của Bộ trưởng tài nguyên và môi trường các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam tại Siem Reap (Campuchia) với quyết định trì hoãn xây đập Xayaburi tại Lào để nghiên cứu sâu hơn tác động của phát triển thủy điện trên dòng chính, hướng tới phát triển và quản lý bền vững sông Mê-kông, đáp lại nguyện vọng của người dân sống trong lưu vực.

Hội nghị COP-17 đã phải kéo dài thêm hai ngày so với kế hoạch dự kiến, tuy nhiên các kết quả đạt được rất hạn chế, thể hiện qua văn kiện tổng kết có tiêu đề Durban Platform for Enhanced Action (Tạm dịch: Khung hành động Durban). Theo đó, COP-17 tuyên bố tất cả các quốc gia đều phải tuân thủ cam kết về một hiệp định ràng buộc pháp lý đối với việc cắt giảm lượng phát thải dự kiến sẽ được thông qua năm 2015 và bắt đầu có hiệu lực từ năm 2020. Khung hành động Durban đã làm hài lòng nhiều quốc gia có mức độ phát thải lớn. Hoa Kỳ, quốc gia phát triển duy nhất không tham gia Nghị định thư Kyoto, đã lý giải cho sự vắng mặt của mình là mọi nỗ lực hạn chế phát thải chung sẽ không thành công khi thiếu vắng hai nước lớn và Trung Quốc và Ấn Độ. Còn Trung Quốc và Ấn Độ khẳng định không hy sinh mục tiêu phát triển kinh tế cho việc cắt giảm phát thải khí nhà kính ít nhất cho tới năm 2020. Bên cạnh đó, Nga, Canada và Nhật Bản lại tuyên bố không tham gia giai đoạn 2 của Nghị định thư Kyoto do những khó khăn về tài chính và đòi hỏi khắt khe của việc cắt giảm khí thải trong bối cảnh kinh tế phục hồi chậm chạp sau khủng hoảng. Như vậy, chỉ còn lại Liên minh Châu Âu (EU) đơn thương độc mã trong cuộc chiến cắt giảm phát thải khí nhà kính. Do đó, COP-17 đã lựa chọn giải pháp mềm dẻo là tiếp tục dành 4 năm (2012 – 2015) để thảo luận về khung cam kết mới và 5 năm tiếp theo (2016-2020) để ký thông qua khung pháp lý này trước khi chính thức đưa vào thực hiện sau năm 2020.

Bản tin Chính sách Quý 4/2011. Nhấn vào hình để tải về (File PDF, 4,07MB)

Trong bối cảnh mức độ cam kết của các quốc gia phát triển về giảm phát thải trở nên lỏng lẻo, thì Việt Nam tiếp tục khẳng định nỗ lực và quyết tâm của mình về ứng phó với BĐKH. Ngày 05/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 2139/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu, bao hàm các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược và lộ trình các giai đoạn thực hiện từ 2011 đến 2050, kèm theo các chương trình, đề án ưu tiên xác định cho giai đoạn 2011-2015. Mười nhiệm vụ chiến lược đã được xác định như chủ động ứng phó với thiên tai và giám sát khí hậu; đảm bảo an ninh lương thực và tài nguyên nước; ứng phó tích cực với nước biển dâng phù hợp các vùng dễ bị tổn thương; bảo vệ và phát triển bền vững rừng; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; tăng cường vai trò chủ đạo của nhà nước trong ứng phó với BĐKH, …

Trong lĩnh vực quản trị tài nguyên khoáng sản, nhà nước tiếp tục can thiệp và ban hành các chính sách nhằm tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động khoáng sản. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Nghị quyết 103/NQ-CP ngày 22/12/2011 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-TW ngày 25/04/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết về Thành lập Đoàn giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường. Mục đích của Đoàn giám sát là nhằm đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản và đề xuất các giải pháp thực hiện tốt hơn các chính sách và pháp luật liên quan. Theo dự kiến, Đoàn giám sát có trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch giám sát và báo cáo kết quả giám sát với Ủy ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 8 năm 2012. Chi tiết các chính sách quan trọng nói trên được trình bày trong các phần tiếp theo của Bản tin Chính sách này.

Tải Bản tin Chính sách Quý 4 năm 2011 (File PDF, 4,07MB)

Bản tin Chính sách Quý III/2011

Trong quý III/2011, đã có khoảng 50 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) và hành chính đáng chú ý, trực tiếp liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững do Chính phủ và các bộ, ngành ban hành. Những vấn đề chính được đề cập là các kế hoạch, đề xuất và biện pháp bảo vệ rừng, thông qua quy hoạch các vườn quốc gia quan trọng, thể chế hoá và ban hành các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên khoáng sản, sử dụng năng lượng tiết kiệm và áp dụng các công cụ xử phạt hành chính, thuế, phí trong quản lý tài nguyên và môi trường.

Một chính sách nổi bật là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tạm dừng việc cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản trên phạm vi cả nước kể từ ngày 30/8/2011, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành liên quan tiến hành báo cáo hiện trạng quy hoạch, thăm dò, khai thác, chế biến và xuất khẩu các loại khoáng sản để nhà nước chấn chỉnh và tăng cường các biện pháp quản lý. Cùng với chỉ đạo này, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, đồng thời tiến hành lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Trong quý này Chính phủ đã ban hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường. Từ ngày 01/01/2012 khi Nghị định này có hiệu lực thì các quy định về khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường sẽ được áp dụng cho các đối tượng là xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch, gas dùng cho thiết bị lạnh và công nghiệp bán dẫn, một số loại túi (nhựa) nilon, thuốc diệt cỏ và thuốc trừ mối. Trong lĩnh vực năng lượng, ngày 21/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (còn gọi là Quy hoạch điện VII), theo đó mục tiêu phát triển điện năng đến năm 2020 vẫn tập trung cho nhiệt điện than và thuỷ điện (chiếm hơn 70% tổng công suất). Song hành cùng chính sách này là quy định của nhà nước về mức xử phạt vi phạm hành chính về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo Nghị định 73/2011/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/10/2011. Và một trong những nhóm đối tượng chính bị điều chỉnh bởi Nghị định này chính là 1190 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trên toàn quốc (đến năm 2011) đã được xác định bởi Quyết định 1294/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 01/8/2011.

Bên cạnh một số hướng dẫn cụ thể về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, quy trình kỹ thuật quan trắc các thành phần môi trường, trong quý III/2011 Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành (thông tư) quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và danh mục loài ngoại lai xâm hại ở Việt Nam.

Trong lĩnh vực quản trị rừng và bảo tồn thiên nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững của 4/6 vườn quốc gia do Bộ trực tiếp quản lý (Tam Đảo, Cát Tiên, Bạch Mã và Cúc Phương); công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2010; đồng thời tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 1685/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ. Ngoài ra, Bộ này cũng đang tiếp tục các nỗ lực phối hợp triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; điều tra và kiểm kê rừng tại Bắc Kạn và Hà Tĩnh (điểm mẫu); và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2012 và giai đoạn tiếp theo. Chi tiết các chính sách quan trọng nêu ở trên được trình bày trong các phần tiếp theo của Ban tin Chính sách này.
 

Thủy điện Mê Kông: Ai được, ai mất?

Mê Kông là con sông lớn thứ 12 trên thế giới với chiều dài hơn 4800 km chảy qua sáu quốc gia (Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Căm-pu-chia và Việt Nam), tạo ra một lưu vực rộng hơn 795.000 km2 (MRC 2011). Lưu vực Hạ Mê Kông ở Thái Lan, Lào, Căm-pu-chia và Việt Nam với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú là nơi sinh sống của hơn 60 triệu người, thuộc hơn 100 dân tộc khác nhau, trong đó đa số là nông dân và ngư dân nghèo sống dựa vào dòng Mê Kông.

Cho đến cuối thế kỷ 20, Mê Kông vẫn là một trong số ít những con sông lớn chưa bị ngăn đập trên phần lớn dòng chảy. Cuối những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch xây ít nhất 7 đập thủy điện trên thượng nguồn Mê Kông và đến nay đã hoàn thành và đưa vào vận hành 4 đập. Cùng thời gian này, Lào và Căm-pu-chia bắt đầu lập kế hoạch xây dựng 12 đập trên dòng chính. Các dòng nhánh của sông Mê Kông cũng đã và đang được khai thác cho thủy điện. Dự tính đến năm 2015 sẽ có 36 đập ở các dòng nhánh được đưa vào vận hành và tới năm 2030 sẽ còn có thêm 30 đập thủy điện nữa được triển khai trên các dòng nhánh (Stone 2011).

Việc các quốc gia trong lưu vực chạy đua khai thác và sử dụng nguồn nước sông Mê Kông cho phát triển thủy điện đã dấy lên nhiều quan ngại cũng như phản ứng từ nhiều phía về những hệ lụy lên môi trường và cuộc sống con người. Trước sức ép của cuộc đua tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh năng lượng, lợi ích kinh tế đang trên đà thắng thế khi cân nhắc sự đánh đổi.

Câu chuyện thủy điện trên dòng chính Mê Kông dường như mới chỉ là những chi tiết bề nổi của bức tranh phát triển đầy phức tạp của tiểu vùng Mê Kông mở rộng, trong đó chứa đựng những động cơ và cạnh tranh lợi ích không chỉ của những quốc gia trong lưu vực mà cả các bên có liên quan khác. Tài liệu này cố gắng tổng hợp những thông tin cơ bản xung quanh câu chuyện thủy điện Mê Kông và lợi ích cũng như thiệt hại của các bên liên quan, đặc biệt là hàng triệu người nghèo sống dựa vào nguồn tài nguyên phong phú của con sông này.

ĐỌC TRỰC TUYẾN

Tải bản PDF (2,21 MB) >>

Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính Mê Kông

Báo cáo Đánh giá Môi trường Chiến lược (SEA) đối với những đề xuất dự án phát triển thủy điện trên dòng chảy chính Sông Mê Kông được Ủy hội Sông Mê Kông (MRC) công bố vào tháng 10/2010. Bản báo cáo này được thực hiện trong vòng 14 tháng, đánh giá sâu về tác động của các dự án thủy điện trên dòng chính đến tổng thể môi trường của sông Mê Kông, đồng thời đưa ra những khuyến nghị cho các nước thành viên trong trường hợp các nước này quyết định tiến hành các dự án phát triển thủy điện như đề xuất.

Sông Srepok, dòng nhánh của sông Mê Kông, đoạn chảy qua Căm-pu-chia. Ảnh: PanNature.

Bản báo cáo đầy đủ bằng tiếng Anh và bản báo cáo tóm tắt bằng tiếng Việt đã được MRC công bố trên website. Xin tham khảo các đường dẫn dưới đây để tải các tài liệu này.

Bản dịch tiếng Việt đầy đủ của bản gốc Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược bằng tiếng Anh do Trung tâm Nghiên cứu Rừng và Đất ngập nước (FORWET) thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thực hiện trong khuôn khổ dự án “nâng cao nhận thức địa phương về tác động của các đập thủy điện dòng chính Mekong đối với ĐBSCL”  do McKnight tài trợ.

Các vấn đề liên quan đến bản dịch tiếng Việt này xin trao đổi với ông Nguyễn Hữu Thiện, Email: savingwetlands@gmail.com.

Trung tâm Con người và Thiên nhiên xin chân thành cảm ơn FORWET và ông Nguyễn Hữu Thiện đã cho phép chúng tôi đăng tải toàn văn bản dịch báo cáo SEA này.

Bản tin Chính sách Quý II/2011

Trong quý 2, Trung tâm Con người và Thiên nhiên đã thống kê được 51 văn bản quy phạm pháp luật, chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm, trong đó đáng chú ý là sự ra đời của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và Cam kết bảo vệ môi trường.

Nghị định 29/2011/NĐ-CP sẽ có hiệu lực từ ngày 05/06/2011, thay thế một số điều khoản về Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác động môi trường và Cam kết bảo vệ môi trường trong Nghị định 21/2008/NĐ-CP và Nghị định số 80/2006/NĐ-CP. Nhìn chung, Nghị định 29/2011/NĐ-CP thắt chặt hơn một số nội dung trong hoạt động đánh giá tác động môi trường của các dự án.

Nghị định mới đã thay đổi quy mô công suất tối thiểu phải thực hiện Đánh giá tác động môi trường của nhiều loại hình dự án. Một số ví dụ điển hình là các dự án thủy điện với dung tích hồ chứa trên 100.000 m3 ( theo quy định cũ là trên 300.000 m3), dự án khai thác khoáng sản sản rắn với công suất lớn hơn 50.000 m3 /năm (theo quy định cũ là trên 100.000 m3/năm), dự án sản xuất xi măng ở tất cả các quy mô công suất (theo quy định cũ là trên 300.000 tấn/năm) phải thực hiện đánh giá tác động môi trường.

Một điểm đáng chú ý khác là những thay đổi đối việc thẩm định, phê duyệt báo cáo Đánh giá tác động môi trường. Theo các quy định cũ, việc thẩm định phê duyệt ĐTM của dự án được giao cho Bộ TN&MT và UBND các tỉnh và thành phố. Tuy nhiên, Nghị định 29/2011/NĐ-CP quy định các Bộ, ngành khác cũng sẽ có trách nhiệm thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với những dự án thuộc thẩm quyền quyết định. Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An sẽ thẩm định những dự án có liên quan đến an ninh và quốc phòng. Bộ TNMT chịu trách nhiệm thẩm định 11 loại hình dự án như lọc dầu, lấn biển, chất thải nguy hại, điện hạt nhân.

Tuy đã điều chỉnh một số quy định khắt khe hơn về việc thực hiện đánh giá tác động môi trường, thực thi trách nhiệm doanh nghiệp và tham vấn cộng đồng khi xây dựng dự án, Nghị định 29/2011/NĐ-CP vẫn còn bộc lộ một số điểm hạn chế. Đặc biệt, việc giao trách nhiệm cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ trong việc tổ chức thẩm định các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt sẽ khó đảm bảo tính khách quan khi thẩm định dự án.

Chuyển động cùng REDD

Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD) ở các nước đang phát triển là sáng kiến toàn cầu đã được bàn thảo tại Hội nghị các nước thành viên lần thứ 13 (COP13) của Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) và đã được đưa vào lộ trình Kế hoạch hành động Ba-li từ năm 2007. Hàng năm, lượng khí thải từ mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển chiếm khoảng 20% so với tổng lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sáng kiến REDD được hình thành từ ý tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảm phát thải khí CO2 từ ngành rừng. Để thử nghiệm và thể chế hoá thực hiện REDD, cùng với Bolivia, Campuchia, Cộng hoà dân chủ Công-gô, Indonesia, Panama, Papua New Guinea, Paraguay, Phillipin, Salomon, Tanzania và Zambia, Việt Nam là quốc gia đã được Chương trình REDD của Liên hợp quốc (UN-REDD) lựa chọn và hỗ trợ xây dựng và thực hiện thí điểm chiến lược quốc gia về REDD từ năm 2009.

REDD được cho là có tiềm năng to lớn, không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp về giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, mà còn tác động tích cực cho bảo tồn đa dạng sinh học (rừng), xoá đói giảm nghèo, phát huy quyền của người dân bản địa và hơn cả là thúc đẩy phát triển bền vững. Lợi ích của REDD sẽ được tối đa ở cả phạm vi dự án, quốc gia và toàn cầu khi chúng được thiết kế thực hiện đúng đắn và hợp lý. Đây cũng là mong muốn của các nhà tài trợ quốc tế cho REDD, nhằm đảm bảo rằng REDD sẽ chính thức được đưa vào cam kết khí hậu toàn cầu sau năm 2012
với sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ của tất cả các nước tham gia.

Bắt đầu bằng ý tưởng đơn giản, nhưng quá trình nghiên cứu thực hiện REDD đã cho thấy đây là vấn đề phức tạp và thách thức, nhất là các yêu cầu về đo đạc, xác định phạm vi, chi trả, duy trì tính lâu bền, trách nhiệm pháp lý, sự rò rỉ và mức tham chiếu tính toán. Do có kỹ thuật phức tạp, nên REDD lại bộc lộ những nguy cơ và rủi ro khiến cộng đồng địa phương sống dựa vào rừng khó có thể tiếp cận và đàm phán để giành lấy lợi ích và sự công bằng. Giới khoa học quốc tế đang tích cực nghiên cứu, bàn luận và công bố những hiểu biết tốt hơn về REDD, nhằm hỗ trợ cho các quốc gia và tổ chức liên quan có thể thiết kế và thực hiện chương trình, kế hoạch và dự án về REDD một cách hiệu quả.

Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) là một trong những tổ chức quốc tế có nhiều đóng góp cho nỗ lực nghiên cứu và tăng cường hiểu biết về REDD. Năm 2008, CIFOR đã xuất bản và công bố rộng rãi ấn phẩm Moving Ahead with REDD: Issues, Options and Implications (Chuyển động cùng REDD: Khái niệm và lựa chọn cách thực hiện) do Arild Angelsen biên tập, với các trình bày cụ thể, rõ ràng về các nội hàm chính liên quan đến lựa chọn thiết kế REDD cấp toàn cầu. Ấn phẩm này gồm có 10 chương chính, giúp bạn đọc có thể hiểu được những thách thức của thiết kế và thực hiện REDD như: Giám sát, báo cáo và thẩm định giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng như thế nào? Nên tài trợ cho REDD ra sao? Nên chi trả REDD cho quốc gia, dự án hay cả hai? Các mức cơ sở tham chiếu nên được xác lập bằng cách nào? Xem xét sự rò rỉ các-bon hoặc tính không bền lâu ra sao? Làm thế nào để cùng đồng hưởng lợi từ REDD và tránh gây tổn hại?… Mục 1.3 của Phần I tài liệu này giới thiệu tóm tắt nội dung chính của từng chương theo bản gốc (tiếng Anh) của ấn phẩm.

Hiểu đúng và đầy đủ về REDD đang là một thách thức đối với các cá nhân và tổ chức ở Việt Nam có cùng mối quan tâm đến các vấn đề giảm phát thải từ quản lý bảo vệ rừng, tài chính các-bon, chi trả và chia sẻ lợi ích công bằng, cũng như các khía cạnh kỹ thuật về phương pháp thiết kế và thực hiện REDD. Trong nỗ lực tăng cường thông tin, nâng cao nhận thức về REDD cho giai đoạn khởi đầu áp dụng sáng kiến này ở Việt Nam, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã lựa chọn để biên dịch, biên tập và tập hợp một số chương quan trọng từ ấn phẩm nói trên của CIFOR để xuất bản bằng tiếng Việt. PanNature chọn dịch và giới thiệu các chương được trình bày trong tài liệu này theo các phần có nội dung tương ứng như sau:

  • Phần 1: Các khái niệm và vấn đề cơ bản về thiết kế và thực hiện REDD
  • Phần 2: Nội dung chính về thiết kế thực hiện REDD và tiêu chí đánh giá lựa chọn
  • Phần 3: Giám sát, báo cáo và thẩm định lượng phát thải từ rừng
  • Phần 4: Đo đạc và giám sát suy thoái rừng
  • Phần 5: Đồng hưởng lợi từ REDD và tránh gây tổn hại

PanNature hi vọng rằng tài liệu này sẽ hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề thực thi REDD ở Việt Nam cũng như quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Bên cạnh cung cấp thông tin bàn luận về các khía cạnh kỹ thuật trong thiết kế và thực hiện REDD nhằm giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ rừng, PanNature mong muốn từ đây bạn đọc sẽ quan tâm nhiều hơn đến các nội hàm cốt lõi của sáng kiến quốc tế này như: xoá đói giảm nghèo, quyền sở hữu và tiếp cận tài nguyên, chia sẻ lợi ích công bằng, quyền của người dân bản địa,… Tóm lại, dù lựa chọn thực hiện REDD theo cách nào thì các bên liên quan cần phải xem con người là trọng tâm, nhất là cộng đồng nghèo, bản địa và sống dựa vào rừng, trong nỗ lực hiện thực hoá các cam kết chính trị của quốc gia thành viên tham gia về giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Cảm ơn tổ chức CIFOR đã cho phép PanNature sử dụng và chuyển ngữ (một phần) ấn phẩm này sang tiếng Việt và khuyến khích công bố rộng rãi. Tài liệu này không thể xuất bản nếu không có sự hỗ trợ tài chính từ Quỹ Ford (Ford Foundation, Hoa Kỳ) cho việc dịch thuật, in ấn và xuất bản. PanNature trân trọng cảm ơn và đánh giá cao sự hợp tác của các cá nhân đã tham gia biên dịch, hiệu đính, thiết kế tài liệu này.

Tải bản PDF cuốn "Chuyển động cùng REDD: Khái niệm và lựa chọn cách thực hiện" – 3.14 MB

Bản tin Chính sách Quý I/2011

http://nature.org.vn/vn/tag/ban-tin-chinh-sach/Bản tin Chính sách Tài nguyên – Môi trường này do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) tổng hợp và biên tập. Định kỳ hàng quý, chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật và cung cấp những thông tin hữu ích tới cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến quá trình xây dựng, dự thảo, ban hành và thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường ở Việt Nam.

Bản tin này dự định sẽ được phát hành định kỳ hàng quý, bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Chúng tôi sẽ phát hành một lượng hạn chế bản in đến các cá nhân và tổ chức quan tâm. Chúng tôi sẽ gửi bản điện tử qua email cho những người đăng ký nhận bản tin. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ đăng tải các bản tin này trên website của Trung tâm Con người và Thiên nhiên.

Trong quý I năm 2011, PanNature đã thống kê được 36 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường được nhà nước ban hành hoặc bắt đầu có hiệu lực. Các văn bản này chủ yếu đề cập đến các nhóm nội dung về: Tổ chức thể chế – tài chính trong lĩnh vực quản lý tài nguyên môi trường; Quản lý môi trường và ô nhiễm môi trường; Tài nguyên rừng, Đa dạng sinh học, Tài nguyên khoáng sản, Tài nguyên nước và Biến đổi khí hậu.

Chúng tôi rất mong nhận được các ý kiến phản hồi, đóng góp, nhận xét để cho các bản tin tiếp theo được hoàn thiện, đầy đủ và hữu ích hơn cho độc giả. Trung tâm Con người và Thiên nhiên cũng sẵn sàng đăng tải các bài viết, phân tích, bình luận về các vấn đề chính sách phát triển bền vững, tài nguyên, môi trường trong bản tin này và trên Trang tin điện tử ThienNhien.Net.

Nguyên tắc Xích đạo: Chuẩn mực môi trường – xã hội tự nguyện cho các nhà đầu tư tài chính

Nguyên tắc Xích đạo là bộ chuẩn mực mang tính chất tự nguyện được xây dựng trên cơ sở tham khảo các chuẩn mực hiện có và nhu cầu của các nhà đầu tư tài chính. Các nhà đầu tư tài chính ở Việt Nam có thể lựa chọn áp dụng thông qua hai hình thức: (i) sử dụng toàn bộ các nguyên tắc này, đăng ký tham gia với Hiệp hội Nguyên tắc Xích đạo và tuyên bố rộng rãi; hoặc (ii) tham khảo để tự xây dựng bộ chuẩn mực riêng phù hợp với nhu cầu của mình.

Read more →

Quản trị tài nguyên thiên nhiên: Lựa chọn chiến lược và chính sách cho tương lai

Tài liệu này tóm lược những điểm chính về xu hướng quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiện nay của thế giới, những bài học và kinh nghiệm cho Việt Nam. Một phần nội dung sẽ được dành để giới thiệu về Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác (EITI) – một trong những giải pháp quản lý tài nguyên đang được nhiều quốc gia và tổ chức xúc tiến và theo đuổi.

Read more →
Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số nhà 6 N8B, Khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính,
Đường Nguyễn Thị Thập, phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
ĐT: 04 3556-4001 | Fax: 04 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn