Limitless customization options & Elementor compatibility let anyone create a beautiful website with Valiance.

Liên hệ

NV 31, Khu đô thị Trung Văn, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội +024-3556-4001 contact@nature.org.vn Mở cửa: 8:00 - 17:30 Thứ Hai - Thứ Sáu
  • Comments Off on Vì sao chính sách môi trường có nhưng thực thi khó?

Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam không thiếu các chiến lược, luật và chương trình hành động nhằm giải quyết những vấn đề môi trường lớn như phân loại rác tại nguồn, cải thiện chất lượng không khí đô thị, hay phục hồi chất lượng sông hồ. Các giải pháp về mặt kỹ thuật, quản lý và thậm chí cả kinh tế đã được nghiên cứu, thí điểm và đưa vào văn bản chính sách. Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế lại khiêm tốn so với kỳ vọng. Khoảng cách này không đơn thuần xuất phát từ khía cạnh ý thức người dân hay thiếu quyết tâm chính trị mà phản ánh những hạn chế mang tính cấu trúc trong cách thiết kế và vận hành chính sách công.

Thứ nhất, nhiều chính sách môi trường được xây dựng theo tư duy tuyến tính trong khi vấn đề môi trường mang tính hệ thống. Phân loại rác tại nguồn là ví dụ điển hình. Chính sách thường tập trung vào hành vi của hộ gia đình, trong khi chuỗi giá trị phía sau như thu gom, trung chuyển, xử lý, thị trường tái chế lại chưa sẵn sàng hoặc thiếu đồng bộ. Khi hệ thống không nhận được rác đã phân loại, động lực tuân thủ của người dân nhanh chóng bị triệt tiêu. Tương tự như vậy, cải thiện chất lượng không khí không thể chỉ dựa vào kiểm soát một vài nguồn phát thải, nếu các chính sách giao thông, quy hoạch đô thị, năng lượng và phát triển công nghiệp vẫn vận hành theo những logic khác nhau.

Thứ hai, chính sách thường đặt mục tiêu cao nhưng công cụ thực thi và nguồn lực lại được phân bổ không tương xứng. Nhiều địa phương được giao trách nhiệm lớn trong bảo vệ môi trường nhưng thiếu ngân sách ổn định, nhân lực chuyên môn, dữ liệu nền và công cụ giám sát. Trong bối cảnh đó, chính sách dễ bị hình thức hóa: có kế hoạch, có báo cáo, nhưng thiếu khả năng kiểm soát đến cùng. Với các vấn đề như ô nhiễm không khí hay ô nhiễm sông hồ đòi hỏi theo dõi dài hạn, dữ liệu liên tục và can thiệp đa ngành thì sự thiếu hụt này càng bộc lộ rõ.

Thứ ba, xung đột giữa mục tiêu bảo vệ môi trường và mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn vẫn chưa được xử lý thỏa đáng trong cơ chế ra quyết định. Ở nhiều đô thị, áp lực thu hút đầu tư, mở rộng hạ tầng, gia tăng mật độ xây dựng thường được ưu tiên hơn các lợi ích môi trường dài hạn. Trong khi đó, lợi ích môi trường trong dài hạn vốn khó đo lường ngay bằng chỉ tiêu kinh tế. Khi chất lượng môi trường sống chưa được định giá đúng trong các quyết định phát triển, chính sách bảo vệ môi trường dễ rơi vào thế yếu, đặc biệt trong khâu thực thi.

Thứ tư, cơ chế khuyến khích và chế tài chưa đủ mạnh để thay đổi hành vi của các tác nhân chính. Trong nhiều trường hợp, chi phí vi phạm môi trường vẫn thấp hơn chi phí tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp hoặc các hoạt động gây ô nhiễm. Ngược lại, các lợi ích từ việc tuân thủ như phân loại rác hay giảm phát thải lại chưa được chuyển hóa thành lợi ích kinh tế hoặc xã hội đủ rõ ràng cho người dân và chính quyền cơ sở. Khi “làm đúng” không mang lại lợi ích cụ thể, còn “làm sai” ít rủi ro, thì chính sách khó phát huy hiệu quả.

Một yếu tố quan trọng khác góp phần làm suy giảm hiệu quả thực thi chính sách môi trường là chủ trương xã hội hóa chưa được triển khai một cách thực chất. Trong nhiều văn bản và phát biểu chính sách, việc huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng, khu vực tư nhân và người dân thường được nhấn mạnh như một giải pháp then chốt. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ chế cụ thể để hiện thực hóa chủ trương này vẫn còn thiếu hoặc chưa đủ hấp dẫn. Các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực môi trường vẫn phải đối mặt với hệ thống thủ tục hành chính phức tạp, quy trình phê duyệt kéo dài và không gian hoạt động hạn chế, trong khi khả năng tiếp cận nguồn lực công và các cơ chế hợp tác công–tư còn rất khiêm tốn. Khi xã hội hóa chủ yếu dừng lại ở định hướng và khẩu hiệu mà chưa được chuyển hóa thành các công cụ chính sách rõ ràng, minh bạch và dễ tiếp cận, thì tiềm năng đóng góp của xã hội cho các mục tiêu môi trường khó có thể được phát huy đầy đủ.

Bên cạnh đó, sự thiếu vắng một tầm nhìn dài hạn, nhất quán và có sức dẫn dắt cho môi trường và thiên nhiên Việt Nam cũng là một nguyên nhân nền tảng. Các chiến lược, chương trình và kế hoạch hiện nay thường được xây dựng theo chu kỳ ngắn, gắn với nhiệm kỳ hoặc từng lĩnh vực riêng lẻ, trong khi các vấn đề môi trường và bảo tồn thiên nhiên đòi hỏi cách tiếp cận xuyên thế hệ và liên ngành. Khi chưa có một “câu chuyện chung” đủ rõ ràng về tương lai môi trường của đất nước để các bên có thể nhìn thấy vai trò, trách nhiệm và lợi ích của mình thì các chính sách dễ bị triển khai rời rạc, thiếu sự đồng thuận và cam kết dài hạn. Đây là lý do khiến nỗ lực cải thiện chất lượng môi trường, dù đúng về mặt kỹ thuật, vẫn khó tạo ra chuyển biến bền vững trong thực tiễn.

Các vấn đề môi trường và bảo tồn thiên nhiên đòi hỏi cách tiếp cận xuyên thế hệ và liên ngành

Cuối cùng, quản trị môi trường vẫn thiếu tính tham gia đầy đủ và có ý nghĩa của nhiều bên liên quan. Nhiều chính sách được ban hành theo cách từ trên xuống, trong khi việc thực thi lại phụ thuộc rất lớn vào cộng đồng, chính quyền cơ sở và khu vực tư nhân. Khi người dân không thấy mình là một phần của giải pháp, còn doanh nghiệp chưa được đặt vào vai trò vừa chịu trách nhiệm vừa có cơ hội hưởng lợi từ chuyển đổi xanh, chính sách khó tạo ra sự thay đổi bền vững.

Nhìn một cách công bằng, những khó khăn trong thực thi chính sách môi trường ở Việt Nam không phải là ngoại lệ mà là thách thức phổ biến của nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, chính từ những “điểm nghẽn” kéo dài này, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tới không chỉ là ban hành thêm chính sách mới, mà là đổi mới cách tiếp cận thực thi chính sách: coi môi trường là một bài toán quản trị hệ thống; đầu tư nghiêm túc cho năng lực thực thi; xử lý xung đột lợi ích một cách minh bạch. Cần thiết phải thiết kế các cơ chế để người dân, doanh nghiệp và chính quyền cùng có động lực hành động. Khi đó, khoảng cách giữa chính sách và thực thi chính sách mới có cơ hội được thu hẹp.

Trung tâm Con người và Thiên nhiên

Tham khảo thêm bài trên báo Tiền Phong “Đổi mới thực thi chính sách môi trường”

Cập nhật

Cùng Nuôi Biển
Tham gia