Bài trình bày

Bảo tồn ĐDSH: Thách thức và cơ hội hợp tác giữa chính phủ với các tổ chức xã hội*

Sau 30 năm Đổi Mới, Việt Nam đã chuyển mình về phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo với nhiều thành tựu được ghi nhận rộng rãi. Song song với quá trình mở cửa, Việt Nam cũng đã nhận được nhiều sự trợ giúp từ cộng đồng quốc tế trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Với vị thế là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, Việt Nam đã đầu tư nhiều nguồn lực để giữ gìn nguồn di sản thiên nhiên quý báu này. Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang bị giảm sút nghiêm trọng theo thời gian và chưa hề có dấu hiệu phục hồi.

Read more →

Hội thảo góp ý sửa đổi Luật Bảo vệ Môi trường 2005

Sau khi thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế vào năm 1986, Việt Nam bắt đầu quan tâm hơn đến mục tiêu bảo vệ môi trường (BVMT). Điều này đã phần nào thể hiện qua nỗ lực tham gia các tiến trình quốc tế liên quan như Hội nghị Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc tại Rio de Janerio năm 1992. Cùng với việc tham gia ký kết một số công ước quốc tế, Việt Nam cũng bắt đầu xây dựng hệ thống chính sách pháp luật và thành lập các cơ quan chuyên môn để phục vụ công tác bảo vệ môi trường. Năm 1993, Luật Bảo vệ Môi trường lần đầu tiên được ban hành với những nội dung sơ khai. Năm 2005, Luật Bảo vệ Môi trường được sửa đổi lần thứ nhất với những nội dung mang tính toàn diện và tổng thể hơn. Cùng với đó, hàng loạt các văn bản dưới luật cũng đã được ban hành để tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

cucphuong-05Ảnh: PanNature.

Trong 20 năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật trong lĩnh vực BVMT. Đặc biệt, những năm 2006 – 2010 được đánh giá là giai đoạn có nhiều chuyển biến tích cực về mặt chính sách cũng như nhận thức của các cấp đối với công tác BVMT. Tuy nhiên, trên thực tế, suy thoái môi trường vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp. Vấn đề suy giảm chất lượng nguồn nước ở các lưu vực sông đã lên mức báo động; ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp đã trở thành vấn đề đáng lo ngại; đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng và an ninh môi trường bị đe dọa (Báo cáo Môi trường Quốc gia, 2010). Ô nhiễm môi trường trong khai thác tài nguyên cũng trở thành vấn đề nóng và thu hút sự quan tâm của công luận. Bên cạnh đó, các hành vi xâm hại môi trường vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi và gây nhiều tác động tiêu cực đối với cộng đồng dân cư.

Trong bối cảnh như trên, một câu hỏi được đặt ra là những vấn đề chính sách gì còn tồn tại khiến công tác BVMT trong thời gian qua chưa đạt được những hiệu quả như mong muốn? Trong giai đoạn Luật BVMT 2005 đang được nghiên cứu sửa đổi, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Văn phòng Quốc Hội phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên cùng Viện Tư vấn Phát triển tổ chức hội thảo “Góp ý sửa đổi Luật bảo vệ môi trường 2005”.

Thời gian và địa điểm

  • Thời gian: Ngày 15 – 16 tháng 8 năm 2013.
  • Địa điểm: Vườn Quốc gia Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình

Các bài trình bày trong hội thảo

Tuyên bố của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển: Sự tham gia và trách nhiệm của Việt Nam
Ông Trịnh Lê Nguyên, PanNature

Giới thiệu Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường
TS. Dương Thành An, Vụ trưởng Vụ chính sách và pháp chế, Tổng cục Môi trường, Bộ TN&MT

Bàn về các quy định đánh giá môi trường chiến lược và quy hoạch môi trường trong Dự thảo sửa đổi Luật BVMT 2005
GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường.

Đánh giá tác động môi trường trong các dự án phát triển và các bất cập chính sách
Bà Nguyễn Hoàng Phượng, PanNature

Tình hình thực hiện Cam kết BVMT trong thời gian qua và đinh hướng trong thời gian tới
TS. Nguyễn Khắc Kinh, Nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định, Bộ TN&MT

Công cụ kinh tế trong quản lý bảo vệ môi trường
TS. Lê Thu Hoa, Khoa Môi trường – Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam: Thực trạng, bất cập chính sách và một số định hướng cho Luật BVMT sửa đổi
Ông Dương Xuân Điệp, Viện Khoa học quản lý môi trường

Chính sách bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản: Thực tiễn thực thi và các bất cập
Bà Trần Thanh Thủy, PanNature

Cải tiến việc tham vấn báo cáo ĐTM của các dự án phát triển kinh tế – xã hội
Ông Nguyễn Đức Tùng, Viện Môi trường và Phát triển bền vững

Nguyên tắc Đồng thuận tự nguyện, báo trước và được cung cấp thông tin
Bà Nguyễn Thu Hương, Tổ chức Oxfam

Dự thảo Luật BVMT sửa đổi và quyền khởi kiện bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Ông Nguyễn Việt Dũng, PanNature

Cấu trúc của ngành luật BVMT: Kinh nghiệm một số quốc gia và bài học cho Việt Nam
Ông Nguyễn Minh Đức, VCCI

BIÊN BẢN HỘI THẢO (theo băng ghi âm tại hội trường)

Diễn đàn Tài nguyên Mê Kông II: Hợp tác đầu tư và Phát triển bền vững Tiểu vùng Mê Kông

Cùng với xu hướng tự do hóa trong thương mại và đầu tư quốc tế, toàn cầu hóa và khu vực hóa, cũng như sự hội nhập sâu sắc của cộng đồng chung ASEAN, các dòng vốn luân chuyển, tìm đến các thị trường mới giàu tiềm năng hơn. Cũng nằm trong xu hướng đó, trong thập kỷ qua, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài không ngừng gia tăng. Theo thống kê của Cục Quản lý Đầu tư Nước ngoài, tính đến 31/12/2012, đã có tổng cộng 719 dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là 29,23 tỷ đô la Mỹ, trong đó vốn của các nhà đầu tư Việt Nam là 12,87 tỷ đô la Mỹ.  Trong đó, lưu vực sông Mê kông là nơi tiếp nhận đầu tư lớn nhất của Việt Nam.

Sự dịch chuyển nguồn vốn ra nước ngoài là tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế sau gần 3 thập kỷ đổi mới, cũng là minh chứng cho sự hội nhập sâu sắc của Việt Nam vào các tiến trình khu vực và quốc tế. Trong khu vực Mê Kông, dòng đầu tư từ Việt Nam đã và đangcó nhiều đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của các nước bạn. Tuy nhiên, như đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam cũng còn gặp nhiều tồn tại và hạn chế. Bên cạnh các rủi ro về kinh tế, môi trường kinh doanh, luật pháp và văn hóa của nước sở tại, v.v. có nhiều khía cạnh khác về môi trường – xã hội chưa được doanh nghiệp và các nhà đầu tư chú ý, tính toán đầy đủ.

Trong cơ cấu đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, các lĩnh vực liên quan đến tài nguyên thiên nhiên (phát triển thủy điện, khai khoáng, cây công nghiệp và khai thác lâm sản) chiếm một tỷ trọng rất lớn. Các loại hình dự án này thườngcó nguy cơ gây nhiều tác động tiêu cực đến tài nguyên, hệ sinh thái và cộng đồng sở tại.  Trong bối cảnh luật pháp của các nước sở tại ngày càng  thắt chặt; nhận thức của cộng đồng ngày càng được cải thiện; và cơ chế cho sự giám sát của các tổ chức ngoài nhà nước ngày càng được mở rộng, doanh nghiêp Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít thách thức trong việc đảm bảo sự an toàn cho hoạt động đầu tư. Trong trường hợp không đảm bảo tuân thủ các chính sách môi trường xã hội của nước sở tại và giải quyết được các xung đột với cộng đồng địa phương, doanh nghiệp Việt Nam có thể phải đối mặt với nhiều nguy cơ thất bại.

Các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là dự án khai thác tài nguyên, còn có thể gây những tác động ngược không mong muốn đối với Việt Nam. Việt Nam cũng đã bắt đầu tham gia vào nhiều thỏa thuận và công ước quốc tế, bao gồm các cam kết liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên. Việc quản lý không tốt các hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế và qua đó có thể làm giảm vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực.

Câu hỏi được đặt ra là nên cải thiện hệ thống chính sách quản lý như thế nào để giảm thiểu các tác động không mong muốn từ các dự án đầu tư ra nước ngoài, nâng cao vị thế quốc gia trong khu vực đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm – qua đó xây dựng hình ảnh một Việt Nam thịnh vượng, thân thiện, có trách nhiệm.  Để cùng thảo luận về vấn đề này, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) phối hợp cùng Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài (VAFIE), Hội Phát triển Hợp tác Kinh tế Việt Nam – Lào – Campuchia (VILACAED), Tổ chức Forest Trends và Tạp chí Đầu tư Nước ngoài tổ chức diễn đàn này nhằm chia sẻ thông tin về thực trạng và các giải pháp chính sách để nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường của các dự án đầu tư nước ngoài của Việt Nam.

Mục tiêu

  • Chia sẻ thông tin và quan điểm của các bên liên quan về vấn đề đầu tư nước ngoài và giảm thiểu tác động lên tài nguyên, môi trường, xã hội.
  • Thúc đẩy hợp tác khu vực nhằm giúp quản trị bền vững tài nguyên thiên nhiên thông qua cải thiện chính sách và khuyến khích áp dụng các chuẩn mực tốt trong đầu tư ra nước ngoài.

Thời gian: Ngày 10 tháng 5 năm 2013
Địa điểm: Tam Đảo, Vĩnh Phúc

mrf2-02

Các đại biểu từ Myanmar, Lào, Cambodia tại diễn đàn. Ảnh: PanNature.

CÁC BÀI TRÌNH BÀY TRONG DIỄN ĐÀN

Thực trạng về FDI và ODI của Việt Nam

Tác động môi trường – xã hội từ hoạt động đầu tư

Chủ đề I: Đầu tư trong khai khoáng và thủy điện

Chủ đề II: Đầu tư trong lâm nghiệp – đất đai

Quản lý tốt hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Tham khảo: Khung pháp luật về môi trường và xã hội tại Lào – Ông Sleumsack Xayamonh, Bộ TNMT Lào (đại biểu gửi bài nhưng không tham dự Diễn đàn).

Báo cáo – Hình ảnh

 

Hội thảo: Hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Chính sách Đổi Mới từ hơn 25 năm trước đã giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định trong thời gian vừa qua. Định hướng phát triển nền kinh tế đa thành phần đã hậu thuẫn cho sự phát triển bùng nổ của kinh tế tư nhân và tạo những bước đà mới cho phát triển kinh tế. Đời sống của người dân, qua đó, đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, theo phân tích của nhiều học giả trong và ngoài nước,  trong hơn hai thập kỷ qua, nền kinh tế của Việt Nam được vận hành theo mô hình tăng trưởng chiều rộng và chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khai thác tài nguyên. Theo đó, lợi thế từ các ngành kinh tế sử dụng nhiều tài nguyên như khai khoáng, dầu mỏ, thủy điện, phát triển cây công nghiệp, sản xuất nông sản, khai thác và chế biến gỗ … đã được tận dụng tối đa phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng cùng với tốc độ gia tăng dân số đã đặt một sức ép rất lớn lên môi trường và hệ sinh thái ở Việt Nam.  Để phục vụ mục tiêu tăng trưởng,  nhiều diện tích đất rừng tự nhiên đã được chuyển đổi mục đích sử dụng sang sản xuất nông nghiệp, phát triển cây công nghiệp, khai thác khoáng sản, thủy điện hoặc để phục vụ công tác tái định cư trong các công trình phát triển cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, quá trình tự do hóa thương mại quốc tế đã gián tiếp dẫn đến tình trạng khai thác và xuất khẩu tài nguyên quá mức. Khai thác và mua bán lâm sản trái phép ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường. Ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp cũng trở nên nhức nhối ở nhiều nơi.

media-policy-workshop-03Ảnh: PanNature.

Nhìn lại chặng đường đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được những kết quả tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cái giá đã phải trả cho tăng trưởng không hề nhỏ. Đó là nguồn tài nguyên không tái tạo dần bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng,  các hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái và đa dạng sinh học bị suy giảm.

Là một quốc gia đang phát triển, tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với một số ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam như nông, lâm và ngư nghiệp mà còn là nguồn sinh kế thiết yếu của cộng đồng dân cư nghèo, sống biệt lập và dễ bị tổn thương. Bởi vậy, các vấn đề về tài nguyên môi trường sẽ đặt Việt Nam trước một thách thức lớn trong việc theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo lợi ích của người nghèo trong tiến trình phát triển kinh tế.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế gắn liền với bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện Chương trình nghị sự 21 về Phát triển bền vững từ năm 1992. Qua đó, Việt Nam cam kết theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững: phát triển kinh tế phải đảm bảo hài hòa với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội. Việt Nam cũng đã tích cực xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật khá đẩy đủ liên quan đến môi trường như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Tài nguyên Nước, Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Đa dạng sinh học …

Tuy vậy, một thực tế vẫn không thể phủ nhận là tình trạng suy thoái môi trường ngày càng trở nên trầm trọng. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là chủ trương ưu tiên mục tiêu phát triển kinh tế kéo dài trong suốt hơn 2 thập kỷ qua, những xung đột giữa quy hoạch phát triển và quy hoạch bảo tồn thiên nhiên, quyền lực thực sự của các cơ quan làm công tác bảo vệ môi trường, và vấn đề minh bạch trong quản trị tài nguyên thiên nhiên.

Trước thực trạng mô hình phát triển hiện tại đang bộc lộ nhiều bất cập, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng đề án tái cơ cấu nền kinh tế nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng. Đây cũng là một thời điểm phù hợp để đánh giá lại vấn đề gắn kết giữa chính sách phát triển và công tác bảo vệ môi trường.  Trong bối cảnh đó, Trung tâm Con người và Thiên nhiên tổ chức hội thảo “Hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam: Thực tiễn và thách thức chính sách”. Hội thảo này là một cơ hội để giới nghiên cứu và các cơ quan truyền thông cùng chia sẻ mối quan tâm về vấn đề chính sách phát triển, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên.

media-policy-workshop-01Ảnh: PanNature.

Mục tiêu

  • Nhìn nhận và đánh giá lại những bất cập, thách thức trong chính sách phát triển đối với mục tiêu bền vững môi trường ở Việt Nam.
  • Thảo luận và gợi ý chính sách nhằm đảm bảo hài hòa mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên.

Thời gian và địa điểm

  • Thời gian: Ngày 20 – 21 tháng 9 năm 2012.
  • Địa điểm:    Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (Ninh Bình)

Thành phần tham gia

  • Truyền thông và báo chí
  • Các nhà nghiên cứu
  • Các tổ chức chính phủ và phi chính phủ
  • Chính quyền địa phương

CÁC BÀI TRÌNH BÀY TRONG HỘI THẢO

Thực trạng công tác bảo vệ môi trường trong 25 năm thực hiện đổi mới kinh tế và vấn đề chuyển đổi phương thức phát triển theo hướng nền kinh tế xanh
PGS. TS.  Nguyễn Thế Chinh  – Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường

Đánh giá tác động môi trường trong quá trình ra quyết định đối với các dự án phát triển: Một số bất cập lớn trong thực tiễn thực hiện ở Việt Nam
TS. Nguyễn Khắc Kinh – Nguyên Vụ trưởng Vụ thầm định và đánh giá tác động môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bất cập trong chính sách quản lý khoáng sản ở địa phương và hệ lụy: Trường hợp đổi vàng lấy du lịch ở Bắc Kạn
Nhà báo Âu Văn Vượng

Những bài học từ chính sách phát triển cây cao su ở Việt Nam
Nhà báo Ngô Văn Huân

Thương mại gỗ: Nhu cầu thị truờng và các tác động đối với công tác bảo vệ rừng
TS. Tô Xuân Phúc – Tổ chức Forest Trends, Hoa Kỳ

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của ai?
ThS. Ngô Thuần Khiết, P. Trưởng ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Liên hiệp các Hội Khoa học Công nghệ Việt Nam (VUSTA)

Buôn bán động vật hoang dã và những thách thức đối với bảo tồn ở Việt Nam
TS. Nguyễn Mạnh Hà – Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES), Trường ĐH Quốc gia Hà Nội

Quản lý gây nuôi và bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam
Ông Vương Tiến Mạnh – CITES Việt Nam

Vai trò và sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định phát triển thủy điện ở Việt Nam
ThS. Nguyễn Việt Dũng, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature)

Ngân hàng thương mại Việt Nam và trách nhiệm đối với môi trường, xã hội
Th.S. Nguyễn Hồng Anh – Trung tâm Con người và Thiên nhiên

Tài liệu tham khảo phục vụ hội thảo

Chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông: Bối cảnh, tác động và các chính sách thích ứng

Hội thảo được tổ chức trong 02 ngày 22 và 23 tháng 6 năm 2012 tại thành phố Cần Thơ. Giảng viên của khóa tập huấn là các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, quản trị tài nguyên nước, phát triển thủy điện, nông nghiệp và tài nguyên môi trường. Học viên tham dự bao gồm 50 đại diện từ các cơ quan nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ và tổ chức cộng đồng làm việc trong các lĩnh vực liên quan từ 12 tỉnh, thành ở khu vực ĐBSCL và phụ cận.

Read more →
Trung tâm Con người và Thiên nhiên | Văn phòng: Số 24 H2, Khu đô thị mới Yên Hòa,
Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 04 3556-4001 | Fax: 04 3556-8941 | Email: contact@nature.org.vn