Limitless customization options & Elementor compatibility let anyone create a beautiful website with Valiance.

Liên hệ

NV 31, Khu đô thị Trung Văn, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội +024-3556-4001 contact@nature.org.vn Mở cửa: 8:00 - 17:30 Thứ Hai - Thứ Sáu
  • Comments Off on Côn trùng và khoảng trống trong bảo tồn đa dạng sinh học

Tóm tắt

Côn trùng là nhóm sinh vật có kích thước nhỏ nhưng giữ vai trò nền tảng trong sự vận hành của hệ sinh thái. Chúng tham gia thụ phấn, phân hủy vật chất hữu cơ, tuần hoàn dinh dưỡng, kiểm soát quần thể sinh vật khác, làm thức ăn cho nhiều nhóm động vật và duy trì dòng năng lượng giữa các sinh cảnh. Tuy nhiên, trong nhiều thảo luận về bảo tồn đa dạng sinh học, côn trùng thường ít được chú ý hơn so với thú lớn, chim quý hiếm, cây gỗ lớn hoặc các hệ sinh thái dễ nhận diện như rừng tự nhiên, đất ngập nước và rạn san hô. Một số nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy sự suy giảm côn trùng ở nhiều nơi trên thế giới là tín hiệu đáng lo ngại về sức khỏe hệ sinh thái. Vấn đề này không chỉ liên quan đến mất loài, mà còn kéo theo sự suy giảm các chức năng sinh thái có vai trò thiết yếu đối với con người. Việt Nam tuy có mức đa dạng sinh học cao nhưng dữ liệu về côn trùng còn phân tán, việc đưa côn trùng vào các chương trình giám sát và chính sách bảo tồn đang trở nên ngày càng cấp thiết.

Việt Nam hiện chưa có hệ thống dữ liệu dài hạn đủ mạnh để đánh giá xu hướng suy giảm côn trùng trên phạm vi quốc gia. Dù vậy, các tài liệu quốc gia và nghiên cứu chuyên ngành đều cho thấy côn trùng là một thành phần quan trọng trong đa dạng sinh học của đất nước. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn 2030 ghi nhận Việt Nam có khoảng 10.500 loài động vật, trong đó có xấp xỉ 8.000 loài côn trùng và động vật không xương sống trong đất; tài liệu này cũng lưu ý rằng số loài thực tế có thể cao hơn nhiều do các loài mới vẫn tiếp tục được phát hiện và mô tả (MONRE, 2014). Các nghiên cứu tại Mường Nhé, Tam Đảo, Ba Vì, Xuân Sơn, Phia Oắc, Đắk Mi, Ngọc Linh và Tiền Hải tiếp tục cho thấy sự phong phú của nhiều nhóm côn trùng trong rừng, suối và đất ngập nước. Những dữ liệu này chưa đủ để kết luận xu hướng suy giảm, nhưng đủ để khẳng định rằng côn trùng là một thành phần không thể bỏ qua trong bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.

Bài viết này tổng hợp các bằng chứng khoa học hiện có về vai trò của côn trùng, hiện trạng dữ liệu ở Việt Nam, các áp lực chính đang tác động đến côn trùng trong thiên nhiên và cảnh quan chuyển tiếp, đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách. Phần cuối bài viết nhấn mạnh lý do cần bảo vệ côn trùng, không chỉ vì giá trị đa dạng sinh học tự thân, mà còn vì lợi ích trực tiếp đối với con người. Trong đó, nhóm côn trùng thụ phấn cần được ưu tiên đặc biệt do liên quan đến năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, tái sinh thực vật hoang dã, nông nghiệp bền vững và an ninh sinh thái. Cách tiếp cận phù hợp không phải là tách côn trùng thành một lĩnh vực bảo tồn riêng biệt, mà là tích hợp bảo tồn côn trùng vào quản lý sinh cảnh, phục hồi hệ sinh thái, nông lâm kết hợp, giám sát đa dạng sinh học và truyền thông công chúng.

Một nhóm sinh vật bị xem nhẹ trong bảo tồn

Trong nhiều thập kỷ, bảo tồn thiên nhiên thường được công chúng nhận diện qua các loài lớn, hiếm hoặc có sức hấp dẫn truyền thông cao. Hổ, voi, tê giác, voọc, chim quý, cây gỗ lớn hay các hệ sinh thái nổi bật thường thu hút nhiều sự quan tâm hơn so với các nhóm sinh vật nhỏ như côn trùng, nhện, giáp xác nhỏ, động vật đất và sinh vật thủy sinh cỡ nhỏ. Cách tiếp cận này có cơ sở lịch sử, bởi các loài biểu tượng giúp huy động sự chú ý xã hội, nguồn tài trợ và chính sách. Tuy nhiên, nếu bảo tồn chỉ tập trung vào những gì dễ nhìn thấy, chúng ta có thể bỏ qua những thành phần giữ vai trò vận hành thực sự của hệ sinh thái. Côn trùng là một ví dụ điển hình. Chúng có thể ít được yêu thích, khó định loại và khó truyền thông, nhưng lại tham gia vào hầu hết các quá trình sinh thái nền tảng.

Việc xem nhẹ côn trùng cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ và thói quen văn hóa. Trong đời sống thường ngày, côn trùng thường bị gộp vào nhóm “sâu bọ”, gắn với phiền toái, bệnh tật, phá hoại mùa màng hoặc mất vệ sinh. Cách nhìn này khiến nhiều người chỉ nhận ra côn trùng khi chúng gây hại, trong khi ít để ý đến các loài có ích như ong bản địa, bướm, bướm đêm, chuồn chuồn, bọ hung, bọ rùa, ong ký sinh, kiến, mối và rất nhiều nhóm côn trùng thủy sinh. Trên thực tế, chỉ một phần nhỏ côn trùng là loài gây hại trực tiếp cho con người hoặc cây trồng. Phần còn lại tham gia vào những hoạt động thầm lặng nhưng không thể thay thế, như thụ phấn, phân hủy, làm thức ăn, cải thiện đất và duy trì cân bằng sinh thái. Vì vậy, thay đổi nhận thức về côn trùng là điều kiện đầu tiên để đưa nhóm sinh vật này vào chính sách bảo tồn.

Các tổng hợp khoa học gần đây cho thấy suy giảm côn trùng không phải là hiện tượng đơn giản, đồng đều ở mọi nơi hay mọi nhóm loài. Có nhóm suy giảm mạnh, có nhóm ít thay đổi, và cũng có một số nhóm tăng lên trong những điều kiện nhất định. Dù vậy, sự phức tạp này không làm giảm mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Nghiên cứu trên Nature phân tích 923 quần xã côn trùng trên cạn từ 106 nghiên cứu dài hạn cho thấy cả số lượng cá thể và độ giàu loài đều suy giảm. Đáng chú ý, sự sụt giảm tổng số lượng côn trùng phần lớn bắt nguồn từ những loài từng phổ biến, chứ không chỉ từ các loài hiếm (van Klink et al., 2023). Đây là phát hiện quan trọng, vì các loài phổ biến thường đóng góp nhiều nhất vào các chức năng sinh thái do có số lượng cá thể lớn và phạm vi phân bố rộng. Khi các loài phổ biến suy giảm, hệ sinh thái có thể mất chức năng trước cả khi xảy ra tuyệt chủng ở cấp độ loài.

Một ví dụ đáng chú ý khác đến từ nghiên cứu về bướm tại Hoa Kỳ công bố trên Science năm 2025. Tổng hợp hơn 76.000 đợt khảo sát, nghiên cứu này cho thấy tổng số lượng bướm giảm khoảng 22% trong giai đoạn 2000–2020, với khoảng hai phần ba số loài được theo dõi có xu hướng suy giảm (Edwards et al., 2025). Dữ liệu này không thể đại diện trực tiếp cho Việt Nam, nhưng có giá trị cảnh báo vì bướm là nhóm tương đối dễ theo dõi và thường được dùng làm chỉ báo sinh thái. Việc một nhóm côn trùng được quan sát tốt như bướm vẫn cho thấy xu hướng suy giảm mạnh ở quy mô lục địa đặt ra câu hỏi nghiêm túc về tình trạng của các nhóm ít được theo dõi hơn trong vùng nhiệt đới. Với Việt Nam, nơi dữ liệu dài hạn về côn trùng còn thiếu, điều quan trọng không phải là vội kết luận mức suy giảm, mà là nhanh chóng xây dựng năng lực theo dõi để không bỏ lỡ các tín hiệu sớm.

Trong bối cảnh đó, cần chuyển cách nhìn từ bảo tồn loài đơn lẻ sang bảo tồn chức năng sinh thái. Một khu rừng không chỉ khỏe mạnh vì còn cây lớn, mà còn vì lớp đất rừng còn sống, thảm mục còn hoạt động, cây rừng còn tái sinh, suối còn các nhóm côn trùng thủy sinh nhạy cảm, và các loài thụ phấn vẫn duy trì tương tác với thực vật. Một vùng đất ngập nước không chỉ có giá trị vì còn chim nước, mà còn vì các nhóm côn trùng, giáp xác nhỏ, động vật đáy và sinh vật thủy sinh khác vẫn duy trì dòng năng lượng cho cả hệ sinh thái. Một cảnh quan nông lâm kết hợp không chỉ bền vững vì có cây, mà còn vì có các loài thụ phấn và thiên địch tự nhiên. Côn trùng, vì vậy, là một cửa sổ quan trọng để đánh giá chất lượng sinh thái thực chất của cảnh quan.

Dữ liệu về côn trùng ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có địa hình kéo dài theo vĩ độ, độ cao biến thiên lớn, nhiều kiểu khí hậu địa phương và hệ sinh thái đa dạng. Các điều kiện này tạo nền tảng cho mức đa dạng sinh học cao, bao gồm cả côn trùng. Theo Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Việt Nam có nhiều hệ sinh thái quan trọng như rừng thường xanh ẩm nhiệt đới, rừng khộp, rừng lá kim, rừng núi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng tràm nước ngọt, hang động, sông hồ, bãi triều, cửa sông, thảm cỏ biển và rạn san hô. Tài liệu này ghi nhận khoảng 10.500 loài động vật, trong đó có xấp xỉ 8.000 loài côn trùng và động vật không xương sống trong đất, đồng thời nhấn mạnh rằng con số thực tế có thể cao hơn nhiều do các loài mới vẫn tiếp tục được phát hiện và mô tả (MONRE, 2014). Đây là một chỉ dấu quan trọng cho thấy côn trùng chiếm tỷ lệ rất lớn trong thành phần đa dạng sinh học Việt Nam, nhưng dữ liệu nền còn chưa đầy đủ.

Các nghiên cứu về bướm cho thấy nhiều khu rừng đặc dụng của Việt Nam có mức đa dạng loài cao. Nghiên cứu thực hiện tại ba khu rừng đặc dụng Phia Oắc, Xuân Sơn và Ba Vì ghi nhận tổng cộng 162 loài bướm; trong đó Xuân Sơn có 100 loài, Ba Vì có 92 loài và Phia Oắc có 66 loài. Nghiên cứu cũng ghi nhận một loài có giá trị bảo tồn là Troides aeacus và một loài mới cho Việt Nam là Capila pieridoides tại Xuân Sơn (Vũ & Trần, 2013).  Ba khu vực nghiên cứu đại diện cho các sinh cảnh rừng đặc dụng miền Bắc, với sự khác biệt về độ cao, cấu trúc sinh cảnh và điều kiện sinh thái. Những phát hiện này cho thấy các khu rừng đặc dụng không chỉ có vai trò bảo tồn thú và thực vật, mà còn là nơi duy trì các cộng đồng côn trùng thụ phấn và chỉ thị sinh thái quan trọng.

Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, nghiên cứu về bướm ngày ghi nhận 198 loài thuộc 105 giống và 11 họ. So với danh lục trước đó của Hill và cộng sự năm 1997, nghiên cứu này bổ sung 129 ghi nhận mới cho khu vực. Trong số các loài ghi nhận có ba loài bướm quý hiếm được liệt kê trong IUCN và Sách đỏ Việt Nam, gồm Troides aeacus, Troides helenaChilasa epicides (Bùi Xuân Phương, 2025). Việc một đợt nghiên cứu có thể bổ sung nhiều ghi nhận mới cho thấy tiềm năng của khu hệ côn trùng ở các khu bảo tồn miền núi mà chưa được tư liệu hóa đầy đủ.

Bướm đêm cũng là nhóm cần được quan tâm hơn. Khác với bướm ngày, bướm đêm hoạt động chủ yếu vào ban đêm, tham gia thụ phấn cho nhiều loài cây nở hoa vào chiều tối hoặc ban đêm, đồng thời là nguồn thức ăn quan trọng cho dơi, chim và nhiều nhóm động vật khác. Nghiên cứu tại Vườn quốc gia Tam Đảo ghi nhận 134 loài bướm đêm thuộc 107 giống và 13 họ sau bốn đợt điều tra; trong đó, họ Noctuidae có số lượng giống và loài cao nhất với 30 giống và 40 loài (Bùi & Quyền, 2018). Các tác giả cũng lưu ý rằng nghiên cứu về bướm đêm ở Việt Nam nói chung và tại Tam Đảo nói riêng còn hạn chế. Đây là điểm cần lưu ý vì bướm đêm có thể rất nhạy cảm với ô nhiễm ánh sáng, mất sinh cảnh và biến đổi vi khí hậu, nhưng lại ít được đưa vào các chương trình giám sát bảo tồn.

Nhóm ong, đặc biệt là ong bản địa và ong hoang dã, có liên quan trực tiếp đến dịch vụ thụ phấn. Một nghiên cứu sơ bộ về ong ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam cung cấp danh sách 59 loài ong thuộc 21 giống và 5 họ. Nghiên cứu ghi nhận một số loài xuất hiện thường xuyên tại nhiều khu vực khảo sát, như Ceratina hieroglyphica, Ceratina pictaTetralonia himalayensis, đồng thời chỉ ra sự khác biệt về thành phần loài giữa Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ (Khuất và cộng sự, 2013). Dù đây mới là nghiên cứu bước đầu, kết quả này có giá trị trong việc cung cấp danh sách tương đối hệ thống về ong nhiệt đới tại các vùng này. Với mục tiêu bảo tồn thụ phấn, những nghiên cứu như vậy cần được mở rộng sang các vùng sinh thái khác, đặc biệt là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven biển và các cảnh quan nông lâm kết hợp.

Côn trùng thủy sinh cũng là một nhóm rất quan trọng nhưng ít được công chúng chú ý. Nghiên cứu tại Rừng đặc dụng Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam ghi nhận 86 loài côn trùng nước thuộc 69 giống, 40 họ và 8 bộ; trong đó bộ Odonata có 24 loài, chiếm 27,91% tổng số loài. Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener tại các điểm nghiên cứu dao động từ 2,9 đến 3,26, phản ánh mức độ đa dạng từ khá đến tốt và rất tốt (Ngô, 2017a). Tại Rừng phòng hộ Đắk Mi, cũng ở Quảng Nam, nghiên cứu khác ghi nhận 92 loài côn trùng nước thuộc 67 giống, 38 họ và 8 bộ; trong đó Ephemeroptera có 26 loài, Odonata có 18 loài, Hemiptera có 13 loài và Trichoptera có 12 loài (Ngô, 2017b). Kết quả này cho thấy suối rừng miền Trung và vùng núi Nam Trường Sơn có giá trị cao đối với đa dạng côn trùng thủy sinh.

Đối với đất ngập nước và rừng ngập mặn, các nghiên cứu trong nước cũng bắt đầu cung cấp những dữ liệu đáng chú ý. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, một nghiên cứu ghi nhận 24 loài côn trùng thuộc 12 họ và 9 bộ trong sinh cảnh rừng ngập mặn và vùng liên quan. Các tác giá nhấn mạnh đây là ghi nhận đầu tiên về khu hệ côn trùng tại khu bảo tồn này, đồng thời cho thấy thành phần côn trùng khác nhau giữa các điểm điều tra (Bùi và cộng sự, 2020). Dù số loài ghi nhận chưa lớn, dữ liệu này vẫn có giá trị vì các hệ sinh thái ven biển thường được nghiên cứu về chim, cá, thủy sản và thực vật ngập mặn, trong khi côn trùng và nhện ít được quan tâm. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phát triển hạ tầng ven biển, côn trùng trong rừng ngập mặn và đất ngập nước cần được xem là một phần của hệ thống chỉ báo sức khỏe sinh thái.

Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra một nhận định quan trọng cho Việt Nam: vấn đề hiện nay không phải là chúng ta đã có đủ bằng chứng để khẳng định côn trùng đang suy giảm trên toàn quốc, mà là dữ liệu còn quá rời rạc để đánh giá xu hướng một cách chắc chắn. Phần lớn nghiên cứu mới dừng ở thành phần loài, danh lục, ghi nhận mới hoặc khảo sát trong thời gian ngắn. Rất ít nghiên cứu có chuỗi theo dõi nhiều năm đủ để phát hiện biến động quần thể, thay đổi mùa vụ, suy giảm sinh cảnh hay tác động của các áp lực như ánh sáng, hóa chất, biến đổi khí hậu và phân mảnh cảnh quan. Đây chính là khoảng trống chính sách cần được lấp đầy. Nếu không có giám sát dài hạn, Việt Nam có nguy cơ chỉ nhận ra sự suy giảm của côn trùng khi các dịch vụ sinh thái đã suy yếu rõ rệt.

Côn trùng trong vận hành hệ sinh thái

Vai trò đầu tiên cần được nhấn mạnh là thụ phấn. Trong tự nhiên, quá trình thụ phấn không chỉ do ong mật thực hiện, mà còn do nhiều nhóm côn trùng khác như ong bản địa, ong không ngòi, ruồi hoa, bướm, bướm đêm, bọ cánh cứng, kiến và một số nhóm côn trùng khác. Các loài này giúp cây rừng, cây bụi, cây dại và cây trồng chuyển phấn, tạo quả, tạo hạt và duy trì tái sinh quần thể. Với nhiều loài thực vật hoang dã, đặc biệt là cây có hoa chuyên hóa, mất loài thụ phấn có thể làm giảm khả năng sinh sản và tái sinh tự nhiên. Trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nơi tương tác giữa thực vật và động vật thụ phấn rất đa dạng, vai trò này càng trở nên quan trọng. Nếu chỉ nhìn vào độ che phủ cây xanh mà bỏ qua mạng lưới thụ phấn, chúng ta có thể đánh giá quá cao sức khỏe của một sinh cảnh.

Côn trùng cũng giữ vai trò quan trọng trong phân hủy và tái tạo dinh dưỡng. Bọ hung, mối, kiến, nhiều loài bọ cánh cứng và ấu trùng sống trong thảm mục hoặc gỗ mục tham gia phân giải lá rụng, gỗ chết, phân động vật và xác hữu cơ. Chúng không hoạt động đơn lẻ, mà cùng với nấm, vi khuẩn, giun đất và các động vật đất khác tạo thành hệ thống phân hủy phức tạp. Hoạt động này giúp đưa dinh dưỡng trở lại đất, cải thiện cấu trúc đất, tăng độ xốp và tạo điều kiện cho cây con tái sinh. Một phân tích tổng hợp năm 2024 cho thấy bọ hung có thể làm tăng sinh trưởng thực vật trung bình khoảng 17%, dù mức tác động thay đổi theo điều kiện sinh thái và thiết kế nghiên cứu (Anderson và cộng sự, 2024). Kết quả này nhắc nhở rằng những loài ít được chú ý có thể tạo ra tác động sinh thái lớn thông qua các quá trình tích lũy.

Trong rừng tự nhiên, gỗ chết, thân cây đổ và lá mục không phải là phần thừa cần loại bỏ, mà là sinh cảnh quan trọng của nhiều loài. Nghiên cứu toàn cầu công bố trên Nature cho thấy côn trùng đóng góp khoảng 29% lượng carbon phát thải từ quá trình phân hủy gỗ chết trong rừng, với vai trò đặc biệt lớn ở vùng nhiệt đới (Seibold và cộng sự, 2021). Điều này cho thấy côn trùng tham gia trực tiếp vào chu trình carbon và chu trình vật chất của rừng. Nếu các khu rừng được quản lý theo hướng quá “sạch”, loại bỏ nhiều cây chết, gỗ mục và lớp thảm mục, nhiều nhóm côn trùng phân hủy có thể mất đi sinh cảnh. Khi đó, chức năng phân hủy, tuần hoàn dinh dưỡng và tái tạo đất cũng bị ảnh hưởng. Đây là một vấn đề cần được đưa vào hướng dẫn phục hồi rừng và quản lý du lịch sinh thái.

Một vai trò khác của côn trùng là kiểm soát sinh học tự nhiên. Trong hệ sinh thái rừng, đồng cỏ, đất ngập nước và cảnh quan nông lâm kết hợp, có rất nhiều loài côn trùng săn mồi hoặc ký sinh. Chuồn chuồn bắt muỗi và các loài côn trùng bay nhỏ; bọ rùa ăn rệp; ong ký sinh kiểm soát nhiều nhóm sâu non; bọ ngựa, bọ xít bắt mồi, nhện và nhiều nhóm côn trùng khác tham gia vào lưới tương tác săn mồi. Khi các nhóm thiên địch này suy giảm, quần thể một số loài có thể biến động mạnh hơn, làm giảm tính ổn định của hệ sinh thái. Trong nông nghiệp, vai trò này đã được nghiên cứu nhiều, nhưng trong hệ sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên, nó vẫn chưa được phản ánh đầy đủ trong quản lý bảo tồn.

Côn trùng còn là nguồn thức ăn nền cho nhiều nhóm động vật. Nhiều loài chim rừng, chim di cư, ếch nhái, thằn lằn, cá suối và dơi ăn côn trùng ở một hoặc nhiều giai đoạn vòng đời. Đối với chim non, sâu non và ấu trùng côn trùng là nguồn protein thiết yếu trong mùa sinh sản. Đối với dơi ăn côn trùng, sự phong phú của côn trùng bay đêm quyết định hiệu quả kiếm ăn và năng lượng sinh sản. Đối với cá suối và lưỡng cư, ấu trùng côn trùng thủy sinh là một phần quan trọng trong khẩu phần. Vì vậy, sự suy giảm côn trùng không dừng lại ở nhóm côn trùng, mà có thể lan sang nhiều nhóm động vật khác.

Côn trùng thủy sinh đặc biệt quan trọng vì chúng kết nối hệ sinh thái nước và hệ sinh thái trên cạn liền. Nhiều loài phù du, cánh úp, cánh lông, chuồn chuồn và ruồi có giai đoạn ấu trùng sống dưới nước, sau đó trưởng thành bay lên cạn. Khi trưởng thành, chúng trở thành thức ăn cho chim, dơi, nhện, thằn lằn và các loài săn mồi ven bờ. Nhờ vậy, năng lượng và dinh dưỡng từ suối, ao, hồ và đất ngập nước được chuyển sang hệ sinh thái trên cạn. Ở các vùng núi Việt Nam, nơi suối nhỏ và rừng đầu nguồn đan xen dày đặc, vai trò kết nối này đặc biệt đáng chú ý. Nếu suối bị ô nhiễm, bồi lấp hoặc bê tông hóa, tác động sẽ không chỉ giới hạn trong lòng suối mà còn lan sang rừng ven suối và các loài ăn côn trùng trên cạn.

Các áp lực chính đối với côn trùng

Mất sinh cảnh là áp lực lớn nhất đối với nhiều nhóm côn trùng. Tuy nhiên, đối với côn trùng, mất sinh cảnh không chỉ đơn thuần là mất toàn bộ cánh rừng hoặc vùng đất ngập nước. Nhiều loài phụ thuộc vào các vi sinh cảnh rất cụ thể như gỗ mục, hốc cây, lớp lá rụng, cây chủ, bãi đất trống, bờ suối tự nhiên, vùng bùn ẩm, vũng nước tạm thời hoặc thảm cây bụi bản địa. Khi các yếu tố nhỏ này bị loại bỏ, côn trùng có thể mất nơi sinh sản, nơi trú ẩn hoặc nguồn thức ăn dù khu vực vẫn còn xanh trên bản đồ. Đây là lý do bảo tồn côn trùng đòi hỏi cách nhìn tinh tế hơn về chất lượng sinh cảnh. Không chỉ diện tích sinh cảnh, mà cấu trúc, tính đa tầng, tính hỗn hợp và sự hiện diện của các vi sinh cảnh mới quyết định khả năng duy trì quần xã côn trùng.

Trong nhiều khu vực tự nhiên và bán tự nhiên ở Việt Nam, xu hướng “dọn sạch” cảnh quan có thể vô tình làm suy giảm đa dạng côn trùng. Các khu du lịch sinh thái, công viên rừng, vườn cây, khu phục hồi cảnh quan hoặc tuyến đường trong vùng đệm thường có xu hướng gom lá rụng, loại bỏ gỗ chết, phát quang bụi cây, bê tông hóa lối đi, kè bờ suối và thay cây bản địa bằng cây cảnh dễ quản lý. Những việc làm này có thể tạo cảm giác gọn gàng và an toàn hơn đối với con người, nhưng lại làm mất môi trường sống của nhiều loài côn trùng. Một khu rừng khỏe mạnh không nhất thiết phải sạch bóng như công viên đô thị, nó cần có những phần đang sống, những phần đang phân hủy, những vùng ẩm, vùng tối, vùng rậm và những cấu trúc nhỏ mà nhiều sinh vật phụ thuộc vào.

Ô nhiễm ánh sáng ban đêm là một áp lực mới nổi cần được quan tâm nhiều hơn. Nghiên cứu trên Nature Communications năm 2024 cho thấy nhiều loài côn trùng bay đêm không chỉ bị hấp dẫn bởi ánh sáng, mà bị mất định hướng do ánh sáng nhân tạo phá vỡ cơ chế định vị tự nhiên theo nguồn sáng xa như mặt trăng (Fabian và cộng sự, 2024). Hệ quả là chúng bay vòng quanh đèn, kiệt sức, dễ bị săn mồi, giảm thời gian kiếm ăn, giao phối hoặc thụ phấn. Ở Việt Nam, áp lực này có thể gia tăng tại các khu du lịch ven rừng, khu nghỉ dưỡng ven biển, đường giao thông xuyên rừng, khu dân cư mở rộng gần vùng tự nhiên, nhà kính và các công trình ven đất ngập nước. Đây là dạng ô nhiễm ít được thảo luận trong đánh giá tác động môi trường, nhưng có thể ảnh hưởng mạnh đến bướm đêm, côn trùng thủy sinh trưởng thành và nhiều loài thụ phấn hoạt động về đêm.

Suy giảm chất lượng nước và biến đổi sinh cảnh ven suối là những các yếu tố gây áp lực lớn đối với côn trùng thủy sinh. Các nhóm phù du, cánh úp, cánh lông, chuồn chuồn, cánh nửa và nhiều loài côn trùng nước khác có yêu cầu khác nhau về oxy hòa tan, tốc độ dòng chảy, nền đáy, độ che phủ ven bờ và chất lượng nước. Khi rừng ven suối bị mất, lòng suối bị bồi lấp, nước bị ô nhiễm hữu cơ hoặc hóa chất, hoặc dòng chảy bị điều chỉnh bởi công trình nhỏ, cộng đồng côn trùng thủy sinh có thể thay đổi nhanh chóng. Một số nhóm nhạy cảm suy giảm, trong khi các nhóm chịu ô nhiễm tốt hơn có thể tăng lên. Vì vậy, côn trùng thủy sinh không chỉ là đối tượng bảo tồn, mà còn là chỉ báo sinh học hữu ích cho quản lý chất lượng nước. Các nghiên cứu tại Đắk Mi và Ngọc Linh cho thấy tiềm năng lớn của nhóm này trong giám sát các hệ thống suối rừng ở Việt Nam.

Biến đổi khí hậu có thể tác động mạnh đến côn trùng vì vòng đời của chúng thường nhạy cảm với nhiệt độ, độ ẩm, mưa và tính mùa vụ. Nắng nóng cực đoan, thay đổi thời điểm mưa, mùa khô kéo dài, mưa lớn bất thường hoặc biến động vi khí hậu có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, thời gian nở, thời gian trưởng thành, khả năng giao phối, nguồn thức ăn và tương tác với cây chủ. Đối với các loài thụ phấn, nếu thời gian hoạt động mạnh của côn trùng lệch khỏi mùa hoa, hiệu quả thụ phấn có thể giảm. Đối với chim ăn côn trùng, nếu thời điểm chim non cần thức ăn không trùng với đỉnh xuất hiện của sâu non, thành công sinh sản có thể bị ảnh hưởng. Những lệch pha này khó quan sát nếu không có dữ liệu dài hạn, và đây là một lý do nữa cho thấy Việt Nam cần xây dựng hệ thống theo dõi côn trùng theo mùa và theo năm.

Hóa chất nông nghiệp cũng là một áp lực cần được nhắc đến. Tại vùng đệm khu bảo tồn, thượng nguồn suối, cảnh quan nông lâm kết hợp, vùng trồng cây công nghiệp, vườn cây ăn quả và vùng sản xuất ven rừng, hóa chất có thể ảnh hưởng đến cả côn trùng gây hại lẫn côn trùng có ích. Tác động không chỉ xảy ra tại nơi phun, mà có thể lan theo nước, gió, đất và chuỗi thức ăn. Với côn trùng thụ phấn, rủi ro nằm ở việc tiếp xúc trực tiếp với hóa chất khi kiếm ăn trên hoa, hoặc gián tiếp qua suy giảm nguồn hoa và nơi làm tổ. Với côn trùng thủy sinh, rủi ro đến từ dòng chảy mặt đưa hóa chất xuống ao, suối và vùng đất ngập nước. Vì vậy, giảm phụ thuộc hóa chất vẫn là một phần quan trọng trong bảo vệ côn trùng, nhưng cần đặt trong bức tranh rộng hơn về quản lý sinh cảnh.

Vì sao cần bảo vệ côn trùng

Bảo vệ côn trùng không phải là một lựa chọn cảm tính, mà là yêu cầu thực tế để duy trì chức năng hệ sinh thái. Nếu côn trùng thụ phấn suy giảm, nhiều loài cây hoang dã và cây trồng sẽ bị ảnh hưởng về khả năng ra quả, kết hạt và tái sinh. Nếu côn trùng phân hủy suy giảm, quá trình phân giải lá mục, gỗ mục, phân động vật và vật chất hữu cơ có thể chậm lại, từ đó làm thay đổi chu trình dinh dưỡng. Nếu côn trùng thủy sinh suy giảm, suối và vùng ven bờ sẽ mất một phần quan trọng trong dòng năng lượng giữa nước và đất liền. Nếu côn trùng làm thức ăn suy giảm, chim, dơi, ếch nhái, cá và bò sát cũng chịu áp lực. Vì vậy, bảo vệ côn trùng thực chất là bảo vệ các quá trình sinh thái giữ cho thiên nhiên vận hành.

Côn trùng cũng có giá trị như nhóm chỉ báo sức khỏe hệ sinh thái. Chúng thường có vòng đời ngắn, phản ứng nhanh với biến đổi môi trường và hiện diện trong nhiều kiểu sinh cảnh. Bướm ngày có thể phản ánh sự thay đổi của thảm thực vật, độ mở sinh cảnh và mức độ phân mảnh cảnh quan. Bướm đêm có thể phản ánh chất lượng sinh cảnh ban đêm và mức độ ô nhiễm ánh sáng. Côn trùng thủy sinh có thể phản ánh chất lượng nước, cấu trúc dòng chảy và tình trạng thảm thực vật ven bờ. Ong bản địa và ruồi hoa có thể phản ánh nguồn hoa, cây bản địa và tính kết nối của cảnh quan. Do đó, đưa côn trùng vào giám sát không chỉ giúp bảo vệ chính côn trùng, mà còn giúp phát hiện sớm thay đổi sinh thái trước khi các dấu hiệu lớn hơn trở nên rõ ràng.

Đối với bảo tồn rừng, côn trùng giúp chúng ta nhìn lại khái niệm rừng khỏe mạnh. Rừng không chỉ là diện tích có cây, mà là một hệ sinh thái có cấu trúc, quá trình và tương tác. Một khu rừng trồng đơn loài có thể xanh, nhưng nghèo hơn nhiều về nguồn hoa, cây chủ, thảm mục, gỗ mục và vi sinh cảnh so với rừng tự nhiên hoặc rừng phục hồi đa loài. Một khu rừng bị dọn sạch tầng dưới tán có thể thuận tiện cho đi lại, nhưng lại làm mất nơi sống của nhiều loài côn trùng và động vật nhỏ. Một khu rừng có nhiều ánh sáng nhân tạo ban đêm có thể thuận lợi cho du lịch, nhưng gây rối loạn cho bướm đêm và côn trùng bay đêm. Vì vậy, bảo vệ côn trùng giúp đưa quản lý rừng trở lại với logic sinh thái thay vì chỉ tập trung vào hình ảnh xanh bên ngoài.

Đối với đất ngập nước và suối, côn trùng đóng vai trò kết nối giữa bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý nước. Nhiều hệ thống suối nhỏ ở miền núi Việt Nam dù ít được chú ý trong các chương trình bảo tồn, nhưng lại là nơi sống của nhiều nhóm côn trùng thủy sinh và là nguồn năng lượng cho rừng ven suối. Các vùng bãi bồi, rừng ngập mặn, ao nhỏ, đầm lầy và vùng trũng theo mùa cũng có thể là sinh cảnh quan trọng đối với chuồn chuồn, cánh nửa, ruồi, muỗi không gây hại và nhiều nhóm côn trùng khác. Nếu các vùng này bị san lấp, kè cứng, ô nhiễm hoặc chiếu sáng quá mức, tác động lên côn trùng sẽ kéo theo tác động lên chim, cá, lưỡng cư và các loài ăn côn trùng. Đây là lý do bảo tồn côn trùng cần gắn với phục hồi đất ngập nước, bảo vệ suối đầu nguồn và duy trì vùng đệm sinh thái ven nước.

Đối với sinh kế con người, giá trị của côn trùng không chỉ nằm ở mật ong, tơ tằm hay một số sản phẩm thương mại, mà chúng còn góp phần lớn vào các dịch vụ hệ sinh thái. Thụ phấn giúp tăng năng suất và chất lượng nhiều loại cây trồng. Thiên địch tự nhiên giúp giảm áp lực sâu hại và giảm phụ thuộc vào hóa chất. Côn trùng phân hủy giúp duy trì sức khỏe đất. Côn trùng thủy sinh góp phần duy trì lưới thức ăn và chất lượng sinh thái của thủy vực. Những lợi ích này thường không được định giá đầy đủ trong chính sách, nhưng khi suy giảm, chi phí thay thế sẽ rất lớn hoặc không thể thay thế hoàn toàn.

Cũng cần nhấn mạnh giá trị khoa học và giáo dục của côn trùng. Nhiều loài côn trùng ở Việt Nam vẫn chưa được mô tả, hoặc mới chỉ được ghi nhận rời rạc ở một số địa điểm. Việc phát hiện thêm các loài mới, ghi nhận mới hoặc mở rộng vùng phân bố không chỉ có ý nghĩa học thuật, mà còn giúp xác định giá trị bảo tồn của khu vực. Các nhóm như bướm, chuồn chuồn, ong, bọ hung và côn trùng thủy sinh có thể được sử dụng trong giáo dục thiên nhiên, khoa học công dân và truyền thông bảo tồn. Khi công chúng hiểu rằng thiên nhiên vận hành nhờ các mắt xích nhỏ, họ có thể thay đổi cách nhìn về rừng, suối, vườn, đất ngập nước và cả những khoảng sinh cảnh nhỏ quanh nơi sống của mình.

Ưu tiên bảo vệ các loài thụ phấn

Trong các nhóm côn trùng có ích, các loài thụ phấn cần được ưu tiên đặc biệt vì liên quan trực tiếp đến lợi ích con người. Thụ phấn ảnh hưởng đến quá trình ra quả, kết hạt, chất lượng và kích thước quả, độ đồng đều, sản lượng và khả năng tái sinh của nhiều loài thực vật. Đối với cây hoang dã, thụ phấn quyết định khả năng duy trì quần thể và phục hồi sinh cảnh. Đối với cây trồng, thụ phấn liên quan đến năng suất nông nghiệp, chất lượng nông sản và thu nhập của người sản xuất. Trên quy mô toàn cầu, IPBES ước tính các cây trồng phụ thuộc vào thụ phấn đóng góp khoảng 35% sản lượng cây trồng toàn cầu, và giá trị sản xuất trực tiếp liên quan đến thụ phấn động vật được ước tính khoảng 235–577 tỷ USD mỗi năm theo giá năm 2015 (IPBES, 2016). Đây là một trong những cơ sở mạnh nhất để đưa thụ phấn vào chính sách bảo tồn và nông nghiệp.

Điểm quan trọng là không thể chỉ dựa vào ong nuôi. Ong mật có vai trò kinh tế lớn và có thể được quản lý để phục vụ sản xuất, nhưng các loài thụ phấn hoang dã có những chức năng bổ sung rất quan trọng. Chúng có thể hoạt động ở các thời điểm khác nhau trong ngày, trong điều kiện thời tiết khác nhau, trên các loại hoa khác nhau và trong các sinh cảnh mà ong nuôi không hiện diện hoặc hoạt động kém hiệu quả. Một số cây cần kiểu rung, kiểu tiếp xúc hoặc hành vi thụ phấn đặc thù mà không phải loài thụ phấn nào cũng thực hiện được. Sự đa dạng của các loài thụ phấn giúp làm cho dịch vụ thụ phấn ổn định hơn trước biến động khí hậu, dịch bệnh, mất sinh cảnh và thay đổi mùa hoa. Vì vậy, chính sách thụ phấn không nên đồng nhất với phát triển nuôi ong mật, mà cần bảo vệ cả cộng đồng thụ phấn hoang dã.

Đối với Việt Nam, việc bảo vệ các loài côn trùng thụ phấn có thể tạo cầu nối giữa bảo tồn thiên nhiên và nông nghiệp bền vững. Các vùng trồng cây ăn quả, cà phê, hồ tiêu, điều, cây dược liệu, rau màu và nông lâm kết hợp đều có thể hưởng lợi từ quần xã thụ phấn khỏe mạnh. Đồng thời, các hệ sinh thái rừng, vườn rừng, bờ suối, hàng cây bản địa, bờ ruộng và mảng cây bụi có thể cung cấp nơi làm tổ, nguồn hoa và hành lang di chuyển cho các loài thụ phấn. Nghiên cứu về ong ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ đã ghi nhận 59 loài ong thuộc 21 giống và 5 họ, cho thấy khu hệ ong bản địa có tiềm năng đáng kể nhưng còn thiếu nghiên cứu hệ thống (Khuất và cộng sự, 2013). Các dữ liệu như vậy cần được mở rộng theo hướng đánh giá vai trò thụ phấn thực tế đối với cây bản địa và cây trồng

Bảo vệ các loài thụ phấn cũng gắn chặt với phục hồi rừng và phục hồi cảnh quan. Khi trồng rừng hoặc phục hồi hệ sinh thái, nếu chỉ tập trung vào số lượng cây trồng và tỷ lệ sống, chúng ta có thể bỏ qua chức năng sinh thái của thảm thực vật. Một khu phục hồi tốt cần có cây bản địa ra hoa theo mùa, cấu trúc đa tầng, nguồn mật và phấn liên tục, cây chủ cho bướm và bướm đêm, khoảng đất trống hoặc thân cây rỗng làm nơi làm tổ cho ong hoang dã. Nếu phục hồi rừng chỉ tạo ra lớp cây đồng đều, nghèo hoa, nghèo vi sinh cảnh và bị quản lý quá sạch, khu vực đó sẽ khó duy trì cộng đồng thụ phấn phong phú. Vì vậy, bảo tồn thụ phấn cần được đưa vào tiêu chí thiết kế phục hồi sinh thái, không chỉ ở rừng mà cả đất ngập nước, nông lâm kết hợp và cảnh quan ven đô.

Một hướng tiếp cận thực tế là xây dựng các vùng cảnh quan thân thiện với thụ phấn. Ở cấp hộ gia đình và cộng đồng, có thể duy trì cây hoa bản địa, hạn chế phun hóa chất trong mùa hoa, giữ bờ bụi, hàng cây, thảm cỏ tự nhiên và các mảng cây dại có kiểm soát. Ở cấp trang trại, có thể thiết kế dải hoa, hàng rào sinh học, cây che bóng đa loài, vườn rừng và vùng không phun hóa chất gần nơi làm tổ của ong hoang dã. Ở cấp khu bảo tồn và vùng đệm, có thể bảo vệ các sinh cảnh chuyển tiếp như bìa rừng, bờ suối, trảng cỏ tự nhiên, đất trống nhỏ và các mảng cây ra hoa theo mùa. Những giải pháp này không nhất thiết tốn kém, nhưng đòi hỏi thay đổi tư duy từ quản lý sạch và đơn giản sang quản lý đa dạng và có chức năng.

Ưu tiên thụ phấn cũng giúp truyền thông bảo tồn côn trùng dễ tiếp cận hơn. Với công chúng, côn trùng là chủ đề thiếu hấp dẫn vì nhiều loài nhỏ, khó nhận biết và không tạo cảm xúc mạnh như thú lớn. Nhưng thụ phấn liên quan trực tiếp đến trái cây, cà phê, rau màu, hạt giống, cây rừng và sinh kế nông thôn. Khi người dân hiểu rằng ong bản địa, bướm, ruồi hoa và bướm đêm góp phần tạo ra quả, hạt và sự tái sinh của cây, họ dễ nhìn côn trùng theo hướng tích cực hơn. Đây có thể là điểm khởi đầu để mở rộng nhận thức sang các nhóm khác như bọ hung, chuồn chuồn, côn trùng thủy sinh và thiên địch tự nhiên. Nói cách khác, bảo tồn thụ phấn có thể trở thành cánh cửa truyền thông để đưa côn trùng trở lại trong câu chuyện bảo tồn thiên nhiên.

Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trước hết, Việt Nam cần từng bước đưa côn trùng vào hệ thống giám sát đa dạng sinh học theo hướng thực tế. Không nên đặt mục tiêu giám sát toàn bộ khu hệ côn trùng ngay từ đầu, vì điều đó vượt quá năng lực chuyên môn và nguồn lực hiện nay. Thay vào đó, có thể lựa chọn một số nhóm chỉ thị có giá trị sinh thái cao và tương đối khả thi về nhận diện, như bướm ngày, bướm đêm, chuồn chuồn, ong bản địa, bọ hung, côn trùng thủy sinh và một số nhóm thụ phấn hoang dã. Các nhóm này có thể được theo dõi tại khu bảo tồn, rừng đặc dụng, vùng đất ngập nước, suối đầu nguồn, cảnh quan phục hồi và vùng nông lâm kết hợp. Mục tiêu quan trọng là tạo dữ liệu dài hạn về xu hướng, mùa vụ, sinh cảnh và áp lực môi trường, thay vì chỉ lập danh lục theo dự án ngắn hạn.

Thứ hai, cần đưa chất lượng sinh cảnh và vi sinh cảnh vào tiêu chí quản lý. Các chương trình phục hồi rừng, phục hồi đất ngập nước, quản lý du lịch sinh thái, thiết kế công viên tự nhiên và phát triển vùng đệm cần chú ý đến các cấu trúc nhỏ như lá mục, gỗ mục, cây chết đứng an toàn, hốc cây, bờ suối tự nhiên, vũng nước tạm thời, cây hoa bản địa và thảm cây bụi. Những yếu tố này thường bị xem là ít quan trọng hoặc kém thẩm mỹ, nhưng lại quyết định sự tồn tại của nhiều nhóm côn trùng. Trong quản lý rừng và phục hồi sinh thái, cần tránh đồng nhất cảnh quan xanh với hệ sinh thái khỏe mạnh. Một sinh cảnh thực sự khỏe mạnh cần có sự đa dạng về cấu trúc, nguồn thức ăn, nơi trú ẩn và các quá trình phân hủy, thụ phấn, săn mồi, tái sinh còn vận hành.

Thứ ba, cần lồng ghép bảo tồn các loài thụ phấn vào nông nghiệp và phục hồi sinh thái. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương, khu bảo tồn và các chương trình nông nghiệp bền vững có thể phát triển hướng dẫn về cảnh quan thân thiện với thụ phấn. Nội dung này có thể bao gồm duy trì cây hoa bản địa, bảo vệ bờ bụi và hàng cây, hạn chế phun hóa chất trong mùa hoa, tạo vùng đệm không hóa chất quanh sinh cảnh tự nhiên, khuyến khích mô hình nông lâm kết hợp đa loài và bảo vệ nơi làm tổ của ong hoang dã. Trong các dự án phục hồi rừng, cần bổ sung các tiêu chí về cây ra hoa theo mùa, cây chủ của bướm, nguồn mật và phấn, cũng như sự kết nối giữa mảnh rừng với cảnh quan xung quanh. Đây là hướng tiếp cận có thể tạo lợi ích kép cho bảo tồn và sinh kế.

Thứ tư, ô nhiễm ánh sáng cần được đưa vào các thảo luận chính sách môi trường và bảo tồn thiên nhiên. Các khu bảo tồn, vùng đệm, khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưỡng ven rừng, vùng ven biển và đất ngập nước nên áp dụng nguyên tắc chiếu sáng ở mức tối thiểu cần thiết. Có thể giảm cường độ, hạn chế ánh sáng tán xạ, tránh chiếu sáng trực tiếp vào rừng, suối và vùng cây hoa, sử dụng cảm biến chuyển động, tắt bớt đèn sau giờ cao điểm và duy trì các vùng tối sinh thái. Những biện pháp này không chỉ có lợi cho côn trùng bay đêm, mà còn cho dơi, chim di cư, rùa biển ở vùng ven biển và nhiều nhóm động vật hoạt động ban đêm khác. Đây là nội dung có thể lồng ghép vào đánh giá tác động môi trường, tiêu chí du lịch sinh thái và quy hoạch hạ tầng ở vùng nhạy cảm sinh thái.

Thứ năm, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn cho phân loại học và cơ sở dữ liệu côn trùng. Thiếu chuyên gia phân loại là một trong những điểm nghẽn lớn nhất đối với bảo tồn côn trùng. Các công nghệ như mã vạch DNA (DNA barcoding), eDNA, bẫy ảnh tự động, ghi nhận qua ứng dụng di động và nhận diện hình ảnh bằng AI có thể hỗ trợ mạnh, nhưng không thể thay thế hoàn toàn chuyên gia phân loại và bộ sưu tập mẫu chuẩn. Các trường đại học, viện nghiên cứu, bảo tàng thiên nhiên, khu bảo tồn và tổ chức bảo tồn cần phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu mở, chuẩn hóa phương pháp khảo sát, lưu trữ mẫu vật và đào tạo thế hệ chuyên gia mới. Nếu không giải quyết được điểm nghẽn này, côn trùng sẽ tiếp tục bị bỏ qua trong quản trị đa dạng sinh học.

Cuối cùng, cần thay đổi truyền thông công chúng về côn trùng. Thay vì chỉ gắn côn trùng với hình ảnh sâu hại hoặc sinh vật gây phiền toái, cần nâng cao nhận thức về vai trò của côn trùng trong thụ phấn, duy trì đất, làm sạch tự nhiên, nuôi sống chim và dơi, và giữ cân bằng sinh thái. Các chủ đề như ong bản địa, bướm đêm thụ phấn, chuồn chuồn và suối sạch, bọ hung và sức khỏe đất, côn trùng trong rừng ngập mặn, hay bóng tối tự nhiên cho côn trùng có thể được đưa vào giáo dục môi trường. Truyền thông tốt sẽ giúp xã hội chấp nhận những thay đổi trong quản lý cảnh quan, như để lại lá mục, giữ bờ bụi, giảm chiếu sáng ban đêm và hạn chế hóa chất. Đây là nền tảng xã hội cần thiết để chính sách bảo tồn côn trùng có thể đi vào thực tế.

Kết luận

Côn trùng là một trong những nhóm sinh vật quan trọng nhất nhưng cũng dễ bị bỏ quên nhất trong bảo tồn thiên nhiên. Chúng nhỏ bé, khó nhận diện và ít thu hút sự chú ý của công chúng, nhưng lại giữ nhiều chức năng nền tảng của hệ sinh thái. Thụ phấn, phân hủy, tuần hoàn dinh dưỡng, kiểm soát sinh học, duy trì lưới thức ăn và kết nối hệ sinh thái nước với đất liền đều phụ thuộc một phần quan trọng vào côn trùng. Khi côn trùng suy giảm, hệ sinh thái không nhất thiết sụp đổ ngay, nhưng có thể yếu đi từ bên trong. Đây là dạng suy thoái chức năng khó nhìn thấy, nhưng rất đáng lo ngại.

Đối với Việt Nam, điều cấp thiết hiện nay không phải là chờ đến khi có đầy đủ bằng chứng suy giảm mới bắt đầu hành động. Các dữ liệu hiện có đã cho thấy Việt Nam sở hữu khu hệ côn trùng phong phú, trong đó nhiều nhóm chưa được nghiên cứu đầy đủ, và các khu bảo tồn, rừng đầu nguồn, đất ngập nước, rừng ngập mặn, cảnh quan nông lâm kết hợp đều có giá trị lớn đối với côn trùng. Việc thiếu dữ liệu dài hạn không nên được hiểu là rủi ro thấp, mà cần được nhìn như một khoảng trống quản trị. Nếu không theo dõi côn trùng, chúng ta sẽ khó biết hệ sinh thái đã mất chức năng từ khi nào. Nếu không bảo vệ côn trùng, nhiều nỗ lực phục hồi rừng, bảo vệ đất ngập nước và phát triển nông nghiệp bền vững có thể thiếu đi nền tảng sinh thái cần thiết.

Trước mắt, việc bảo vệ các loài thụ phấn nên được ưu tiên do đây là nhóm có khả năng kết nối rõ nhất giữa bảo tồn thiên nhiên và lợi ích con người. Bảo vệ ong bản địa, bướm, bướm đêm, ruồi hoa và các loài thụ phấn khác cũng là bảo vệ cây rừng, cây trồng, nông sản, sinh kế và khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái. Từ nhóm thụ phấn, có thể mở rộng sang các nhóm côn trùng khác như bọ hung, chuồn chuồn, côn trùng thủy sinh, thiên địch tự nhiên và côn trùng phân hủy. Bảo tồn côn trùng không nên được xem là một chủ đề nhỏ bên lề, mà là một phần thiết yếu của bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và phát triển bền vững ở Việt Nam.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Anderson, D. J., Berson, J. D., Didham, R. K., Simmons, L. W., & Evans, T. A. (2024). Dung beetles increase plant growth: a meta-analysis. Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences, 291(2019). https://doi.org/10.1098/rspb.2023.2885Anderson, D. J., Berson, J. D., Didham, R. K., Simmons, L. W., & Evans, T. A. (2024). Dung beetles increase plant growth: A meta-analysis. Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences, 291(2019), 20232885. doi:10.1098/rspb.2023.2885

Bùi, M. H., et al& Ngô, T. H. (2020). Đa dạng thành phần loài côn trùng ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, 225(08), 17–23.

Bùi, M. H., & Quyền, T. S. (2018). Divesrsity of species of moths (Lepidoptera) in Tam Dao National Park, Vinh Phuc. VNU Journal of Science Natural Sciences and Technology, 34(3). https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.4771Đa dạng thành phần loài bướm đêm ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 34(3), 64–74.

Bùi, X. P. (2025). NGHIÊN CỨU KHU HỆ BƯỚM NGÀY (RHOPALOCERA: LEPIDOPTERA) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN, VIỆT NAM. Tạp Chí Khoa Học và Công Nghệ Nhiệt Đới, (07), 29–35. https://doi.org/10.58334/vrtc.jtst.n07.03Bùi, X. P. (2025). Nghiên cứu khu hệ bướm ngày (Rhopalocera: Lepidoptera) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, 07, 29–35. doi:10.58334/vrtc.jtst.n07.03

Edwards, C. B., Zipkin, E. F., Henry, E. H., Haddad, N. M., Forister, M. L., Burls, K. J., Campbell, S. P., Crone, E. E., Diffendorfer, J., Douglas, M. R., Drum, R. G., Fallon, C. E., Glassberg, J., Grames, E. M., Hatfield, R., Hershcovich, S., Hoffman Black, S., Larsen, E. A., Leuenberger, W., & Linders, M. J. (2025). Rapid butterfly declines across the United States during the 21st century. Science, 387(6738), 1090–1094. https://doi.org/10.1126/science.adp4671 Edwards, C. B., Halsch, C. A., Vandegrift, R., Duan, L., Fox, R., Kelly, J. F., Kinkead, K., et al. (2025). Rapid butterfly declines across the United States during the 21st century. Science, 387(6738), 1090–1094. doi:10.1126/science.adp4671

Fabian, S. T., Sondhi, Y., Allen, P. E., Theobald, J. C., & Lin, H.-T. (2024). Why flying insects gather at artificial light. Nature Communications, 15(1). https://doi.org/10.1038/s41467-024-44785-3Fabian, S. T., Sondhi, Y., Allen, P. E., Theobald, J. C., & Longcore, T. (2024). Why flying insects gather at artificial light. Nature Communications, 15, 689. doi:10.1038/s41467-024-44785-3

Halsch, C. A., Elphick, C. S., Bahlai, C. A., Forister, M. L., Wagner, D. L., Ware, J. L., & Grames, E. M. (2025). Meta-synthesis reveals interconnections among apparent drivers of insect biodiversity loss. BioScience, 75(6), 448–456. https://doi.org/10.1093/biosci/biaf034Halsch, C. A., Elphick, C. S., Bahlai, C. A., Forister, M. L., Wagner, D. L., Ware, J. L., & Grames, E. M. (2025). Meta-synthesis reveals interconnections among apparent drivers of insect biodiversity loss. BioScience, 75(6), 448–460. doi:10.1093/biosci/biaf034

IPBES. (2016). The assessment report on pollinators, pollination and food production. Intergovernmental Science-Policy Platform on Biodiversity and Ecosystem Services.

Khuất, Đ. L., Lê, X. H., Đặng, T. H., & Phạm, H. P. (2013). A preliminary study on bees (Hemenoptera: Apoidea: Apiformes) from Northern and North central Vietnam. TAP CHI SINH HOC, 34(4). https://doi.org/10.15625/0866-7160/v34n4.2676Khuất, Đ. L., Lê, X. H., Đặng, T. H., & Phạm, H. P. (2012). A preliminary study on bees (Hymenoptera: Apoidea: Apiformes) from Northern and North Central Vietnam. Tạp chí Sinh học, 34(4), 419–426. doi:10.15625/0866-7160/v34n4.2676

Klein, A.-M., Vaissière, B. E., Cane, J. H., Steffan-Dewenter, I., Cunningham, S. A., Kremen, C., & Tscharntke, T. (2006). Importance of pollinators in changing landscapes for world crops. Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences, 274(1608), 303–313. https://doi.org/10.1098/rspb.2006.3721Klein, A.-M., Vaissière, B. E., Cane, J. H., Steffan-Dewenter, I., Cunningham, S. A., Kremen, C., & Tscharntke, T. (2007). Importance of pollinators in changing landscapes for world crops. Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences, 274(1608), 303–313. doi:10.1098/rspb.2006.3721

Ministry of Natural Resources and Environment. (2014). Vietnam national biodiversity strategy to 2020, vision to 2030. MONRE.

Ngô, X. N. (2017a). Data on aquatic insects of Ngoc Linh Special-use Forest, Quang Nam province. VNU Journal of Science Natural Sciences and Technology, 33(3). https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.4519 (2017a). Dẫn liệu về thành phần loài côn trùng nước tại Rừng đặc dụng Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 33(3), 72–78.

Ngô, X. N. (2017b). Preliminary data on aquatic insects of Dak Mi Protection Forest, Quang Nam province. VNU Journal of Science Natural Sciences and Technology, 33(3). https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.4518 (2017b). Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài côn trùng nước tại Rừng phòng hộ Đắk Mi, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 33(3), 66–71. doi:10.25073/2588-1140/vnunst.4518

Seibold, S., Rammer, W., Hothorn, T., Seidl, R., Ulyshen, M. D., Lorz, J., Cadotte, M. W., Lindenmayer, D. B., Adhikari, Y. P., Aragón, R., Bae, S., Baldrian, P., Barimani Varandi, H., Barlow, J., Bässler, C., Beauchêne, J., Berenguer, E., Bergamin, R. S., Birkemoe, T., … Müller, J. (2021). The contribution of insects to global forest deadwood decomposition. Nature, 597(7874), 77–81. https://doi.org/10.1038/s41586-021-03740-8Seibold, S., Rammer, W., Hothorn, T., Seidl, R., Ulyshen, M. D., Lorz, J., Cadotte, M. W., Lindenmayer, D. B., Adhikari, Y. P., Aragón, R., Bae, S., Baldrian, P., Barimani Varandi, H., Barlow, J., Bässler, C., Beauchêne, J., Berenguer, E., Bergamin, R. S., Birkemoe, T., … Müller, J. (2021). The contribution of insects to global forest deadwood decomposition. Nature, 597, 77–81. doi:10.1038/s41586-021-03740-8

van Klink, R., Bowler, D. E., Gongalsky, K. B., Shen, M., Swengel, S. R., & Chase, J. M. (2023). Disproportionate declines of formerly abundant species underlie insect loss. Nature, 628(8007), 359–364. https://doi.org/10.1038/s41586-023-06861-4van Klink, R., Bowler, D. E., Gongalsky, K. B., Shen, M., Swengel, S. R., & Chase, J. M. (2024). Disproportionate declines of formerly abundant species underlie insect loss. Nature, 628, 359–364. doi:10.1038/s41586-023-06861-4

Vũ, V. L. , & Trần, T. T. B. (2013). THÀNH PHẦN LOÀI BƯỚM Ở BA KHU RỪNG ĐẶC DỤNG PHIA OẮC, XUÂN SƠN VÀ BA VÌ. Hue University Journal of Science: Agriculture and Rural Development, 79(1). https://doi.org/10.26459/jard.v79i1.3114 (2013). Thành phần loài bướm ở ba khu rừng đặc dụng Phia Oắc, Xuân Sơn và Ba Vì. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

 

Cập nhật

Cùng Nuôi Biển
Tham gia