skip to Main Content
Chỉ Dẫn Về Các Loài Thông ở Vùng Núi Mai Châu – Mộc Châu, Tỉnh Hòa Bình Và Sơn La

Chỉ dẫn về các loài thông ở vùng núi Mai Châu – Mộc Châu, tỉnh Hòa Bình và Sơn La

Khu vực vùng núi giáp ranh giữa hai tỉnh Sơn La và Hòa Bình từ lâu được biết đến là một vùng khí hậu mát mẻ quanh năm với những cách rừng già trên các ngọn núi đá, núi đất tươi đẹp và những bản làng người dân tộc Mông thoáng ẩn thoáng hiện sau những vườn mận, vườn đào hoa trắng hoa hồng những ngày đầu xuân. Khí hậu á nhiệt đới và địa hình địa chất riêng biệt này mà ở đây đã sản sinh ra một hệ thực vật rất đa dạng và độc đáo. Trong hệ thực vật ở đây không thể không nói tới những loài tùng, loài bách, loài thông phong phú và quí hiếm ở đây.

Cuốn sách này được biên soạn nhằm cung cấp những thông tin cụ thể và cập nhật nhất cho những loài cây gỗ thuộc lớp Thông (Pinopsida), gọi chung là cây lá kim, của hệ thực vật vùng núi giáp ranh giữa 2 tỉnh Hòa Bình – Sơn La (2 huyện Mai Châu và Mộc Châu). Toàn bộ các thông tin, mô tả, phân bố, sinh cảnh tự nhiên, hiện trạng bảo tồn và hình ảnh trong tài liệu này được thu thập từ hoạt động hiện trường thực tế tại khu vực.

pine-book-cover

Ở vùng núi Mai Châu – Mộc Châu có ít nhất là 12 loài cây của lớp Thông đã được biết có trong rừng tự nhiên. Những loài cây này sinh sống trong những khoảng rừng nguyên sinh của 2 khu BTTN Hang Kia – Pà Cò và Xuân Nha, hoặc trên các dải núi đá vôi của huyện Mộc Châu men theo quốc lộ số 6. Dọc theo các đường dông núi đá vôi này ở độ cao 1.200 – 1.500 m là sinh cảnh đặc trưng rừng hỗn giao á nhiệt đới vùng núi với loài cây ưu thế chính là Thông pà cò (Pinus kwangtungensis). Xen lẫn ở tầng tán trên là các loài Pơ mu (Fokienia hodginsii) hoặc Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris). Rải rác ở tầng tán dưới hoặc ở những dông núi có độ cao thấp hơn bắt gặp Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgerii) hay hiếm hơn là Dẻ tùng sọc hẹp (Amentotaxus argoteania).

Trên các khu vực núi đất có đá mẹ sa phiến thạch hoặc đá silic các loài cây lá kim còn mọc trong các khoảng rừng lá rộng thường xanh ở độ cao 900 – 1.200 m. Thường gặp nhất ở đây là loài Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) hay Du sam núi đất (Keteleeria evelyniana). Đặc biệt ở khu BTTN Xuân Nha còn phát hiện một quần thể thuần của một loài thông năm lá mới. Loài thông mới có các đặc điểm gần nhất với loài Thông trắng Trung Quốc (Pinus armandii) nhưng cũng có những đặc điểm khác biệt đáng kể so với thứ chuẩn của loài này. Ngoài ra ở sát chân đỉnh núi Pha Luông bên phía sườn Tây của khu bảo tồn này còn gặp một quần xã cây lá kim độc đáo gồm các loài Đỉnh tùng (Cephalotaxus mannii), Dẻ tùng sọc hẹp (Amentotaxus argoteania) và Dẻ tùng sọc rộng (Amentotaxus yunnanensis).

Có lẽ hiếm có một khu vực nào mà trong một phạm vi hẹp lại có mức độ đa dạng cao như vậy đối với cây lá kim. Các loài cây lá kim này không chỉ là nguồn gen hiếm của nước ta mà còn là những loài cây cho gỗ, làm thuốc chữa bệnh có giá trị. Bởi vậy phần lớn các loài cây lá kim này là đối tượng quan trọng được quan tâm bảo vệ trong 2 khu bảo tồn ở đây.

Những quần thể các loài cây lá kim ở Hòa Bình – Sơn La còn lại với số lượng cá thể ít, bị chia cắt mạnh do địa hình và do những cánh rừng nguyên sinh liền dải trước đây đã bị khai phá. Phần lớn các loài cây lá kim này có quá trình sinh sản, tái sinh khá đặc biệt, với những yêu cầu riêng về điều kiện sinh thái nên khả năng tái sinh của chúng trong tự nhiên rất hạn chế. Một số loài bị khai thác mạnh lấy gỗ hay làm cảnh làm cho số lượng và phân bố của chúng bị suy giảm nghiêm trọng. Khu vực này cũng là nơi có đông người dân tộc Mông sinh sống, việc phát nương làm rẫy, khai thác gỗ củi vẫn diễn ra hàng ngày, làm thu hẹp sinh cảnh sống của các loài cây lá kim ở đây, đặt nhiều loài cây vào mức độ đe dọa cao.

Bảo tồn các loài cây lá kim là bảo tồn nguồn gen độc đáo và đặc trưng nhất của hệ thực vật rừng tại Hòa Bình – Sơn La. Những thông tin về hiện trạng và các mối đe dọa tới quần thể cây lá kim được nêu trong Chỉ dẫn này là dựa trên các kết quả điều tra khảo sát tại khu vực, căn cứ theo phương pháp đánh giá hiện trạng bảo tồn của IUCN (2011). Hiện trạng bảo tồn quốc tế của các loài được nêu cũng lấy theo IUCN. Hiện trạng quốc gia căn cứ vào tài liệu cập nhật nhất cho các loài Thông Việt Nam năm 2004 – 2005.

Hoạt động bảo tồn cần được tiến hành cả tại nơi sinh sống của cây cũng như cần tìm kiếm và thực hiện nhân giống các loài này trong điều kiện nuôi trồng. Phương pháp nhân giống thích hợp cho cây lá kim ở đây tùy theo từng loài, nhưng đều đã được thử nghiệm khá thành công. Có thể thu hái hạt từ các nón quả Thông vào vụ quả chín, lấy hạt và gieo tạo cây con. Các loài cây lá kim họ Hoàng đàn, Kim giao hay Thông đỏ đều khá dễ dàng nhân tạo cây con bằng cách giâm các cành ngọn cây vào đúng mùa cây ngừng sinh trưởng. Một số hướng dẫn cụ thể về cách nhân giống hiệu quả cho từng loài cây lá kim ở khu vực được nêu trong Chỉ dẫn này.

Cuốn Chỉ dẫn này là một đóng góp nhỏ vào hiểu biết về các loài Thông ở một phần rừng đặc trưng của vùng Tây Bắc. Hy vọng là những thông tin thu thập được từ thực tế sẽ giúp ích cho các cán bộ lâm nghiệp và người dân địa phương trong việc bảo tồn và sử dụng tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên độc đáo ở tại đây cũng như các vùng khác có điều kiện tự nhiên tương tự.

 Đọc sách trực tuyến:

Tải ấn bản điện tử (File PDF, 5.38 MB)

Bài giới thiệu sách và hình ảnh trên ThienNhien.Net

 

This Post Has 0 Comments

Leave a Reply

Back To Top