Limitless customization options & Elementor compatibility let anyone create a beautiful website with Valiance.

Liên hệ

NV 31, Khu đô thị Trung Văn, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội +024-3556-4001 contact@nature.org.vn Mở cửa: 8:00 - 17:30 Thứ Hai - Thứ Sáu
  • Comments Off on Đưa mục tiêu bảo tồn thiên nhiên vào trung tâm của quyết sách phát triển

Tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ 2026-2031 của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) ngày 27-28/8/2026.

Trịnh Lê Nguyên
Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature)

Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiêp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031 (Nguồn: VUSTA)

Bảo tồn thiên nhiên về bản chất là một lĩnh vực khoa học liên ngành, đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên, công nghệ, khoa học xã hội, pháp luật, kinh tế và quản trị. Trong bối cảnh các mục tiêu tăng trưởng ngày càng cao, khoảng cách giữa cam kết bảo vệ thiên nhiên trong chính sách và mức độ ưu tiên trong các quyết định thực tế vẫn còn đáng kể. Các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, đặc biệt là những đơn vị có kinh nghiệm lâu dài tại hiện trường, có thể góp phần thu hẹp khoảng cách này thông qua nghiên cứu, phản biện chính sách, thử nghiệm giải pháp và kết nối giữa Nhà nước, giới khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng. Đồng thời, các tổ chức này còn có khả năng huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới và giảm một phần áp lực lên ngân sách nhà nước trong các hoạt động bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và phát triển bền vững. Tuy nhiên, lực lượng hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực bảo tồn hiện còn mỏng, nguồn lực hạn chế và cơ chế tham gia vào quá trình chính sách chưa thực sự ổn định. Tham luận này đề xuất một số định hướng nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập trong chuyển đổi tư duy từ khắc phục hậu quả sang phòng ngừa, thích ứng và phục hồi, đồng thời nâng cao chất lượng quản trị tài nguyên và môi trường trong giai đoạn mới.

1. Bảo tồn thiên nhiên là một lĩnh vực khoa học liên ngành

Bảo tồn thiên nhiên thường được công chúng hình dung trước hết là công việc của các nhà sinh học, nhà lâm nghiệp, cán bộ kiểm lâm hoặc các cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc bảo vệ một loài hoang dã, một khu rừng, một vùng đất ngập nước hay một hệ sinh thái biển không thể chỉ dựa vào hiểu biết về sinh học và sinh thái học. Mỗi quyết định bảo tồn đều liên quan đến sử dụng đất, sinh kế, quyền tiếp cận tài nguyên, đầu tư, cơ sở hạ tầng, tổ chức bộ máy, ngân sách, văn hóa, tập quán và lợi ích của nhiều nhóm khác nhau trong xã hội.

Khoa học bảo tồn vì vậy đã phát triển thành một lĩnh vực liên ngành, kết hợp giữa khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và khoa học xã hội. Khoa học tự nhiên cung cấp những bằng chứng về tình trạng của các loài, hệ sinh thái, nguồn gen và các quá trình sinh thái. Công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, thiết bị giám sát, cơ sở dữ liệu và các công cụ phân tích mới giúp phát hiện biến động, theo dõi các mối đe dọa và đánh giá hiệu quả quản lý. Bên cạnh đó, kinh tế học, xã hội học, nhân học, luật học và khoa học quản trị giúp lý giải nguyên nhân sâu xa của suy thoái thiên nhiên, nhận diện các nhóm lợi ích, đánh giá tác động xã hội và thiết kế những giải pháp có khả năng được chấp nhận và thực thi trong thực tế.

Các nghiên cứu quốc tế đã nhấn mạnh rằng khoa học bảo tồn không thể tách con người khỏi thiên nhiên, mà cần đồng thời xem xét lợi ích của con người, thể chế, hành vi xã hội và các lựa chọn phát triển. Việc tích hợp khoa học xã hội không chỉ giúp mô tả các vấn đề xã hội liên quan đến bảo tồn thiên nhiên mà còn góp phần chẩn đoán nguyên nhân, dự báo phản ứng của các bên liên quan và xây dựng các giải pháp khả thi hơn (Bennett et al., 2017; Kareiva & Marvier, 2012).

Đặc điểm liên ngành này đặt ra yêu cầu phải mở rộng sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Trong bối cảnh Việt Nam, bên cạnh cơ quan quản lý nhà nước và các viện nghiên cứu, trường đại học, cần có sự tham gia thực chất của các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, nhất là những tổ chức có kinh nghiệm làm việc lâu dài tại hiện trường. Đây là lực lượng có khả năng kết nối tri thức khoa học với thực tiễn quản lý, chuyển tải tiếng nói của cộng đồng và phản ánh kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi chính sách.

2. Khoảng cách giữa ưu tiên chính sách và quyết định thực tế

Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã được Đảng và Nhà nước xác định là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 coi đa dạng sinh học là nguồn vốn tự nhiên quan trọng, đồng thời yêu cầu tăng cường nguồn lực, ưu tiên đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa và mở rộng hợp tác trong bảo tồn thiên nhiên. Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức chính trị – xã hội và các đối tác phát triển trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Tuy nhiên, giữa việc xác định bảo tồn là một ưu tiên trong chiến lược, pháp luật và quy hoạch với mức độ ưu tiên trong các quyết định cụ thể vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Trong nhiều trường hợp, những lợi ích của bảo tồn thiên nhiên như duy trì nguồn nước, điều hòa khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ nguồn gen và giữ gìn khả năng phục hồi của hệ sinh thái chỉ được nhìn thấy trong trung hạn hoặc dài hạn. Ngược lại, chi phí cơ hội của việc bảo vệ một khu vực tự nhiên, giới hạn một dự án hoặc thay đổi một phương án sử dụng đất thường xuất hiện ngay và có thể được tính toán tương đối rõ ràng.

Tiếng nói bảo vệ thiên nhiên vì vậy thường phải cạnh tranh với các lợi ích phát triển của các bên có tổ chức, nguồn lực và sức ảnh hưởng lớn hơn. Một khu rừng, vùng đất ngập nước hoặc sinh cảnh của một loài nguy cấp không có tiếng nói trực tiếp trong quá trình ra quyết định. Lợi ích của việc bảo tồn thường phân tán cho nhiều người và nhiều thế hệ, trong khi lợi ích từ việc chuyển đổi tài nguyên có thể tập trung vào một số chủ thể cụ thể. Sự bất cân xứng đó khiến tiếng nói của giới bảo tồn thiên nhiên, dù có cơ sở khoa học và pháp lý, không phải lúc nào cũng có sức nặng tương xứng.

Áp lực này đặc biệt dễ nhìn thấy ở cấp địa phương. Chính quyền địa phương phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ về tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và cải thiện đời sống nhân dân. Trong bối cảnh các địa phương được yêu cầu theo đuổi tốc độ tăng trưởng cao, những mục tiêu có thể tạo ra kết quả kinh tế trong thời gian ngắn thường dễ được ưu tiên hơn so với các lợi ích sinh thái dài hạn. Bảo tồn thiên nhiên khi đó có nguy cơ bị nhìn nhận như một trở ngại về thủ tục, một khoản chi phí hoặc một nhiệm vụ có thể thực hiện sau, thay vì là điều kiện nền tảng của phát triển bền vững.

Điều này không có nghĩa là các cấp chính quyền không quan tâm đến bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Vấn đề nằm ở sự khác biệt về động lực, nguồn lực, tiêu chí đánh giá và thời hạn ra quyết định. Vì vậy, để các cam kết bảo tồn được thực thi, cần có những tổ chức đủ năng lực duy trì tiếng nói khoa học độc lập, theo dõi các quyết định có khả năng tác động đến thiên nhiên và đề xuất những phương án hài hòa hơn giữa bảo tồn với phát triển.

3. Lực lượng còn mỏng nhưng có lợi thế đặc thù

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam hiện là một hệ thống lớn, gồm 126 hội thành viên, trong đó có 92 hội ngành toàn quốc và 34 liên hiệp hội tỉnh, thành phố, cùng 575 tổ chức khoa học và công nghệ. Toàn hệ thống tập hợp khoảng 3,7 triệu hội viên, trong đó có khoảng 2,2 triệu trí thức. Đây là một nguồn lực rất lớn để tham gia nghiên cứu, phổ biến kiến thức, tư vấn, phản biện và giám định xã hội (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, 2026).

Tuy nhiên, lực lượng trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học vẫn còn tương đối nhỏ. Báo cáo tổng hợp hoạt động giai đoạn 2021–2024, dựa trên thông tin của 400 tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc, ghi nhận 23 tổ chức trực tiếp tham gia các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học. Các tổ chức này đã triển khai 146 mô hình bảo tồn và 148 chiến dịch truyền thông, trong đó một số đơn vị đã trở thành đối tác có uy tín của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quốc tế. Con số này cho thấy đóng góp thực tế đáng ghi nhận, nhưng đồng thời phản ánh lực lượng chuyên sâu về bảo tồn trong hệ thống vẫn còn mỏng so với quy mô và mức độ phức tạp của các thách thức hiện nay (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, 2024).

Hơn nữa, không phải tổ chức nào tham gia hoạt động bảo tồn thiên nhiên cũng có điều kiện thực hiện nghiên cứu và phản biện chính sách. Nhiều đơn vị tập trung vào cứu hộ động vật hoang dã, giáo dục môi trường, phát triển cộng đồng, phục hồi rừng, hỗ trợ sinh kế hoặc triển khai các dự án tại địa phương. Hoạt động theo dõi chính sách, tổng hợp bằng chứng, phân tích các quy định pháp luật và tham gia lâu dài vào quá trình xây dựng văn bản thường khó tìm được nguồn tài chính ổn định. Do đó, số lượng tổ chức có khả năng vừa duy trì hoạt động hiện trường, vừa tiến hành nghiên cứu và tham gia phản biện chính sách thực tế còn ít hơn nữa.

Mặc dù vậy, các tổ chức có kinh nghiệm hiện trường lại sở hữu một lợi thế khó thay thế. Nhiều vấn đề không thể được nhận diện đầy đủ chỉ bằng nghiên cứu bàn giấy hoặc các chuyến khảo sát ngắn hạn. Một tổ chức hiện diện lâu dài tại địa bàn có thể hiểu rõ hơn sự khác biệt giữa bản đồ quy hoạch và hiện trạng sử dụng đất; giữa quy định pháp luật với khả năng tổ chức thực hiện; giữa một giải pháp đúng về kỹ thuật với khả năng được cộng đồng chấp nhận; hoặc giữa các chỉ tiêu được báo cáo với tình trạng thực tế của hệ sinh thái.

Kinh nghiệm của các tổ chức bảo tồn trong hệ thống VUSTA cho thấy hoạt động hiện trường có thể tạo ra bằng chứng quan trọng cho chính sách. Những vấn đề liên quan đến quản trị khu bảo tồn, bảo vệ rừng tự nhiên, săn bắt và buôn bán động vật hoang dã, phục hồi hệ sinh thái, quyền và sinh kế của cộng đồng hoặc tác động của các dự án phát triển thường được phát hiện trước hết từ quá trình làm việc tại cơ sở. VUSTA cũng đã ghi nhận một số tổ chức trực thuộc, trong đó có PanNature, VietNature, ENV, Gaia, Save Vietnam’s Wildlife và CCD, là những đơn vị có nhiều hoạt động trong bảo tồn đa dạng sinh học và động vật, thực vật hoang dã.

Vì vậy. cần nhìn nhận rằng giá trị của các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập không chỉ nằm ở số lượng nghiên cứu hay dự án được thực hiện. Giá trị quan trọng hơn là khả năng tạo ra một chu trình liên tục từ hiện trường đến chính sách và từ chính sách trở lại hiện trường: phát hiện vấn đề, thu thập bằng chứng, thử nghiệm giải pháp, kiến nghị điều chỉnh và theo dõi kết quả thực thi.

4. Khía cạnh xã hội hóa công tác bảo tồn thiên nhiên và huy động nguồn lực ngoài ngân sách

Một đóng góp quan trọng khác của các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập là khả năng huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu, bảo tồn và phát triển bền vững. Nguồn lực này có thể đến từ các quỹ khoa học, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, chương trình trách nhiệm xã hội, đóng góp của cộng đồng, các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ hoặc các hình thức hợp tác công – tư phù hợp.

Theo số liệu tổng hợp từ 400 tổ chức trực thuộc VUSTA trong giai đoạn 2021–2024, tổng kinh phí huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nhiệm vụ ngân sách nhà nước, hợp đồng với doanh nghiệp, dịch vụ khoa học và công nghệ và viện trợ nước ngoài, đạt trên 4.722 tỷ đồng. Riêng nguồn viện trợ nước ngoài đạt khoảng 30,8 triệu USD. Các tổ chức này đồng thời nộp hơn 261 tỷ đồng tiền thuế và hơn 250 tỷ đồng bảo hiểm xã hội. Mặc dù đây chưa phải là số liệu tách riêng cho lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, kết quả này cho thấy năng lực huy động nguồn lực, tạo việc làm và cung cấp các dịch vụ xã hội của khu vực khoa học và công nghệ ngoài công lập.

Trong bảo tồn thiên nhiên, xã hội hóa có thể giúp Nhà nước mở rộng quy mô hoạt động mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách công. Các tổ chức ngoài công lập có thể huy động tài chính và chuyên gia để điều tra đa dạng sinh học, phục hồi sinh cảnh, hỗ trợ cộng đồng, giám sát động vật hoang dã, đào tạo cán bộ địa phương, truyền thông thay đổi hành vi và thử nghiệm những mô hình quản lý mới. Nhiều hoạt động trong số này nếu chỉ chờ nguồn ngân sách nhà nước sẽ khó được triển khai đầy đủ hoặc liên tục.

Các tổ chức ngoài công lập cũng có thể đóng vai trò thực hiện các hoạt động thí điểm, thử nghiệm. Một mô hình phục hồi rừng bằng loài cây bản địa, cơ chế đồng quản lý tài nguyên, phương pháp giám sát đa dạng sinh học hay công cụ tài chính mới có thể được triển khai trước ở quy mô nhỏ bằng nguồn lực xã hội. Nếu mô hình chứng minh được hiệu quả, cơ quan nhà nước có thể xem xét thể chế hóa, nhân rộng hoặc tích hợp vào các chương trình công. Cách làm này giúp giảm chi phí thử nghiệm và rủi ro cho khu vực nhà nước, đồng thời tạo không gian cho sáng kiến và đổi mới sáng tạo.

Khung đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh – Montreal cũng đưa ra yêu cầu huy động tài chính cho đa dạng sinh học từ tất cả các nguồn, bao gồm nguồn công, tư nhân, trong nước và quốc tế; thúc đẩy tài chính hỗn hợp, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và các cơ chế tài chính đổi mới; đồng thời nâng cao vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong bảo tồn (Convention on Biological Diversity, 2022).

Tuy nhiên, xã hội hóa không có nghĩa là chuyển trách nhiệm của Nhà nước sang cho các tổ chức xã hội hoặc thị trường. Nhà nước vẫn phải giữ vai trò chủ đạo trong xây dựng pháp luật, bảo đảm ngân sách thiết yếu, quản lý hệ thống khu bảo tồn, thực thi pháp luật và bảo vệ các tài sản tự nhiên thuộc lợi ích công cộng. Nguồn lực xã hội cần được xem là phần bổ sung, giúp mở rộng năng lực thực hiện và thúc đẩy sáng tạo, chứ không phải lý do để thu hẹp trách nhiệm công.

Xã hội hóa cũng cần đi cùng các nguyên tắc về minh bạch, trách nhiệm giải trình, tiêu chuẩn khoa học và bảo đảm an toàn xã hội, môi trường. Đặc biệt, cần tránh biến bảo tồn thiên nhiên thành một hoạt động thương mại đơn thuần hoặc đánh đổi các giá trị thiên nhiên không thể thay thế để lấy các lợi ích tài chính ngắn hạn.

5. Từ góp ý theo vụ việc đến tham gia có hệ thống

Hiện nay, sự tham gia của các tổ chức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách vẫn thường tập trung ở giai đoạn lấy ý kiến đối với dự thảo đã tương đối hoàn chỉnh. Thời gian góp ý đôi khi khá ngắn, thông tin và dữ liệu nền chưa được cung cấp đầy đủ, trong khi không phải lúc nào cũng có cơ chế phản hồi về việc tiếp thu hay không tiếp thu kiến nghị.

Cách tham gia này chưa khai thác hết giá trị của các tổ chức có kinh nghiệm thực tiễn. Khi một dự thảo văn bản đã được hình thành, nhiều lựa chọn căn bản về mục tiêu, phạm vi điều chỉnh và công cụ chính sách có thể đã được xác định. Việc góp ý khi đó thường tập trung vào câu chữ hoặc một số điều khoản cụ thể, thay vì tham gia từ đầu vào quá trình xác định vấn đề và xây dựng phương án.

Trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, việc được tham gia sớm đặc biệt quan trọng. Nhiều quyết định có thể tạo ra tác động khó đảo ngược đối với rừng tự nhiên, vùng đất ngập nước, hệ sinh thái biển hoặc sinh cảnh của các loài nguy cấp. Khi một sinh cảnh đã bị chia cắt, một quần thể đã suy giảm dưới ngưỡng phục hồi hoặc một hệ sinh thái đã bị chuyển đổi, việc khắc phục thường rất tốn kém, thậm chí không còn khả thi trên thực tế.

Vì vậy, các tổ chức khoa học và công nghệ nên được tham gia từ giai đoạn nhận diện vấn đề, thu thập bằng chứng, xây dựng kịch bản chính sách và đánh giá tác động. Cơ chế phản biện cũng không nên chỉ áp dụng đối với văn bản quy phạm pháp luật, mà cần mở rộng sang các chiến lược, quy hoạch, chương trình đầu tư và các quyết định phát triển có khả năng gây tác động lớn đến thiên nhiên.

Hoạt động tư vấn, phản biện phải dựa trên bằng chứng và tuân thủ các chuẩn mực khoa học. Các tổ chức tham gia cần công khai phương pháp, nguồn dữ liệu, giới hạn của nghiên cứu và những xung đột lợi ích có thể có. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần tạo điều kiện tiếp cận thông tin, dành thời gian phù hợp cho nghiên cứu và có cơ chế phản hồi chính thức đối với các kiến nghị quan trọng. Phản biện chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành một quá trình đối thoại hai chiều, thay vì một thủ tục hành chính.

6. Một số đề xuất đối với VUSTA trong nhiệm kỳ mới

Trong nhiệm kỳ 2026–2031, chúng tôi kiến nghị VUSTA phát huy mạnh hơn vai trò tập hợp trí thức và các tổ chức khoa học và công nghệ trong bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững thông qua một số hướng sau.

Thứ nhất, cần xây dựng một mạng lưới hoặc cơ chế phối hợp chuyên đề về bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững trong hệ thống VUSTA. Mạng lưới này nên tập hợp các tổ chức khoa học và công nghệ, hội ngành, liên hiệp hội địa phương và các chuyên gia thuộc cả khoa học tự nhiên, công nghệ, kinh tế, xã hội, pháp luật và quản trị công. Trước mắt, cần rà soát, cập nhật danh mục các đơn vị, lĩnh vực chuyên môn, địa bàn hoạt động và năng lực nghiên cứu để việc huy động chuyên gia được nhanh chóng và phù hợp hơn.

Thứ hai, VUSTA cần tăng cường các chương trình nghiên cứu và phản biện chính sách có tính liên ngành, tập trung vào những vấn đề lớn có sự cạnh tranh giữa mục tiêu bảo tồn với mục tiêu phát triển. Các chủ đề có thể bao gồm quản trị hệ thống khu bảo tồn; bảo vệ rừng tự nhiên; phục hồi hệ sinh thái; bảo tồn loài nguy cấp và tái hoang dã; hạ tầng và năng lượng; tài chính đa dạng sinh học; thị trường carbon; các khu vực được bảo tồn ngoài khu bảo tồn; cũng như tác động của chuyển đổi mục đích sử dụng đất và biến đổi khí hậu.

Thứ ba, cần tạo điều kiện để các tổ chức có kinh nghiệm hiện trường tham gia sớm hơn vào quá trình chính sách. VUSTA có thể làm đầu mối kết nối các tổ chức này với cơ quan soạn thảo, Quốc hội, các bộ, ngành và chính quyền địa phương; tổ chức các nhóm nghiên cứu nhanh; tổng hợp bằng chứng từ địa phương; và xây dựng các báo cáo tư vấn, phản biện độc lập đối với những vấn đề có tác động lớn đến thiên nhiên.

Thứ tư, cần có cơ chế đặt hàng và hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu chính sách, tổng kết mô hình và đánh giá độc lập. Tư vấn, phản biện chính sách có chất lượng đòi hỏi thời gian, dữ liệu, chuyên gia và nguồn lực tổ chức. Chúng ta không thể duy trì hoạt động phản biện chuyên nghiệp nếu các tổ chức chỉ được mời góp ý trong thời gian ngắn và phải tự trang trải toàn bộ chi phí. Việc sử dụng ngân sách nhà nước cho một số nhiệm vụ phản biện cần được kết hợp với huy động nguồn lực từ quỹ khoa học, doanh nghiệp và các nguồn hợp pháp khác, nhưng phải có cơ chế bảo đảm tính độc lập của kết quả nghiên cứu.

Thứ năm, VUSTA có thể hỗ trợ các tổ chức trực thuộc tăng cường khả năng huy động nguồn lực xã hội. Các nội dung hỗ trợ có thể bao gồm xây dựng đề xuất dự án, quản trị tài chính, tiếp nhận viện trợ, hợp tác với doanh nghiệp, đo lường tác động, quản lý dữ liệu và công bố kết quả khoa học. Đồng thời, cần tiếp tục kiến nghị đơn giản hóa các thủ tục hành chính không cần thiết, nhất là thủ tục liên quan đến phê duyệt viện trợ, hợp tác quốc tế và tổ chức các hoạt động hội thảo, trao đổi khoa học.

Thứ sáu, cần nâng cao vai trò của các liên hiệp hội địa phương trong bảo tồn thiên nhiên. Đây là những đơn vị có khả năng kết nối chuyên gia với cấp ủy, chính quyền, cơ quan chuyên môn và cộng đồng địa phương. Khi những sức ép phát triển xuất hiện tại một địa bàn cụ thể, liên hiệp hội địa phương có thể tạo ra không gian đối thoại sớm, giúp các bên tiếp cận bằng chứng khoa học và xem xét các phương án phát triển ít gây tổn hại hơn đến thiên nhiên.

Cuối cùng, cần tăng cường truyền thông dựa trên bằng chứng để các vấn đề bảo tồn thiên nhiên được trình bày bằng ngôn ngữ dễ hiểu và có liên hệ trực tiếp với đời sống, kinh tế và an ninh của đất nước. Bảo vệ thiên nhiên không chỉ là bảo vệ một số loài quý hiếm mà còn là bảo vệ nguồn nước, đất đai, sinh kế, sức khỏe, khả năng chống chịu với thiên tai và nền tảng phát triển của các thế hệ tương lai.

Kết luận

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa nâng cao chất lượng phát triển, khả năng tự chủ và sức chống chịu của quốc gia. Trong bối cảnh đó, bảo tồn thiên nhiên không thể tiếp tục được xem là một nhiệm vụ riêng biệt của ngành môi trường hoặc một nội dung chỉ được xem xét sau khi các quyết định phát triển cơ bản đã được hình thành. Thiên nhiên, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái là một phần của nền tảng phát triển, không gian sinh tồn, an ninh quốc gia và chất lượng sống của Nhân dân.

Tư duy chính sách môi trường trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ xử lý thiệt hại sang chủ động phòng ngừa, thích ứng và phục hồi; từ quản lý tài nguyên theo địa giới hành chính sang quản trị theo hệ sinh thái, cảnh quan, lưu vực sông và vùng biển. Các quyết định phát triển, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn, cần đánh giá đầy đủ sức chịu tải của môi trường, chi phí sinh thái, rủi ro tích lũy và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Chuyển đổi xanh cũng cần được nhìn nhận không chỉ như một nghĩa vụ về môi trường, mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây là những định hướng đã được lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.

Sự chuyển đổi tư duy đó đòi hỏi một nền tảng khoa học đủ mạnh, liên ngành và gắn với thực tiễn. Nhà nước cần xác định rõ ràng những lợi ích sinh thái cốt lõi phải được bảo vệ, những giới hạn không thể vượt qua và những nguy cơ cần được phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu, giám sát và cảnh báo sớm đủ năng lực để xử lý những vấn đề vượt qua ranh giới hành chính và phạm vi quản lý của từng ngành. Đây chính là không gian mà các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập có thể đóng góp một cách thiết thực thông qua nghiên cứu độc lập, bằng chứng hiện trường, giám sát dài hạn, thử nghiệm mô hình và kết nối giữa cơ quan nhà nước với giới khoa học, cộng đồng và doanh nghiệp.

Phát huy vai trò của các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập vì vậy không chỉ nhằm huy động thêm nguồn lực xã hội hay giảm một phần áp lực đối với ngân sách nhà nước. Quan trọng hơn, đây là phương thức mở rộng năng lực nhận diện rủi ro, nâng cao chất lượng quyết sách và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quản trị tài nguyên và môi trường. Nguồn lực ngoài nhà nước có thể hỗ trợ nghiên cứu, phục hồi hệ sinh thái, giám sát đa dạng sinh học, phát triển công nghệ, hỗ trợ cộng đồng và thử nghiệm các giải pháp mới; nhưng Nhà nước vẫn phải giữ vai trò kiến tạo thể chế, xác định các lợi ích công cộng phải bảo vệ và bảo đảm những giới hạn sinh thái không bị đánh đổi bởi lợi ích ngắn hạn.

Trong nhiệm kỳ mới, VUSTA có điều kiện và trách nhiệm tập hợp đội ngũ trí thức, các hội ngành và tổ chức khoa học và công nghệ để hình thành một lực lượng tư vấn, phản biện đủ mạnh cho quá trình chuyển đổi này. Khi các tổ chức có chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn được tham gia từ sớm, được tiếp cận dữ liệu và có cơ chế đối thoại thực chất, tiếng nói bảo vệ thiên nhiên sẽ không còn chỉ xuất hiện khi thiệt hại đã xảy ra. Nó sẽ trở thành một bộ phận thường xuyên của quá trình dự báo, lựa chọn phương án và ra quyết định phát triển.

Một đất nước chỉ có thể phát triển bền vững khi những quyết định của hôm nay không thu hẹp cơ hội phát triển của ngày mai. Đưa bằng chứng khoa học, giới hạn sinh thái và trách nhiệm liên thế hệ vào trung tâm của quá trình hoạch định chính sách chính là cách để bảo tồn thiên nhiên trở thành năng lực phát triển, thay vì bị nhìn nhận như một lực cản đối với tăng trưởng kinh tế.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bennett, N. J., Roth, R., Klain, S. C., Chan, K., Christie, P., Clark, D. A., Cullman, G., Curran, D., Durbin, T. J., Epstein, G., Greenberg, A., Nelson, M. P., Sandlos, J., Stedman, R., Teel, T. L., Thomas, R., Veríssimo, D., & Wyborn, C. (2017). Conservation social science: Understanding and integrating human dimensions to improve conservation. Biological Conservation, 205, 93–108. doi:10.1016/j.biocon.2016.10.006.

Convention on Biological Diversity. (2022). Kunming–Montreal Global Biodiversity Framework: Decision 15/4. Conference of the Parties to the Convention on Biological Diversity.

Kareiva, P., & Marvier, M. (2012). What is conservation science? BioScience, 62(11), 962–969. doi:10.1525/bio.2012.62.11.5.

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. (2024, ngày 27 tháng 12). Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ. Link: https://vusta.vn/tiep-tuc-doi-moi-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cua-cac-to-chuc-khoa-hoc-va-cong-nghe-p93331.html

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. (2026, ngày 18 tháng 5). Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – Vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam. Link: https://vusta.vn/khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-vai-tro-cua-lien-hiep-hoi-viet-nam-p94821.html

Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 28 tháng 1 năm 2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. (2022, ngày 4 tháng 10). Các tổ chức thuộc VUSTA rất có uy tín trong bảo tồn đa dạng sinh học. Link: https://vusta.vn/cac-to-chuc-thuoc-vusta-rat-co-uy-tin-trong-bao-ton-da-dang-sinh-hoc-p91370.html

Cập nhật

Cùng Nuôi Biển
Tham gia