Limitless customization options & Elementor compatibility let anyone create a beautiful website with Valiance.

Liên hệ

NV 31, Khu đô thị Trung Văn, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội +024-3556-4001 contact@nature.org.vn Mở cửa: 8:00 - 17:30 Thứ Hai - Thứ Sáu
  • Comments Off on Bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học trong cảnh quan sản xuất nông nghiệp hướng tới nền nông nghiệp sinh thái

Trung tâm Con người và Thiên nhiên

Tham luận Hội nghị khoa học “Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững” do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức vào ngày 30/9/2026.

  1. Đặt vấn đề

Trong những thập kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng suất và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa. Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu phát triển nông nghiệp đang tiếp tục được mở rộng theo hướng xanh hơn, tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi đó, một khía cạnh cần được quan tâm đầy đủ hơn là đa dạng sinh học ngay trong các hệ thống và cảnh quan sản xuất nông nghiệp.

Theo cách tiếp cận của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), đa dạng sinh học cho lương thực và nông nghiệp không chỉ bao gồm nguồn gen cây trồng, vật nuôi hay các loài thủy sản được khai thác, mà còn bao gồm các loài thực vật, động vật và vi sinh vật hiện diện trong và xung quanh các hệ thống sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Các thành phần đa dạng sinh học này tham gia vào nhiều quá trình thiết yếu như hình thành và duy trì độ phì của đất, chu trình dinh dưỡng, thụ phấn, kiểm soát sinh vật gây hại, điều tiết nước và duy trì khả năng chống chịu của hệ thống sản xuất (FAO, 2019).

Đối với Việt Nam, khía cạnh này đặc biệt đáng lưu ý trong các cảnh quan thâm canh nông nghiệp. Nghiên cứu tại các vùng trồng lúa ở miền Bắc cho thấy mức độ đa dạng về cấu trúc sử dụng đất có tác động tích cực đến đa dạng phân loại và đa dạng nhóm chức năng của động vật chân khớp, trong khi số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có tác động tiêu cực rõ rệt đối với cả hai nhóm chỉ số (Sattler và cộng sự., 2020). Các nghiên cứu thuộc chương trình LEGATO tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, cũng cho thấy hệ sinh thái lúa cung cấp nhiều dịch vụ ngoài sản lượng lương thực, bao gồm kiểm soát sinh học, thụ phấn, chu trình dinh dưỡng và các giá trị văn hóa của cảnh quan (Settele và cộng sự., 2018).

Vì vậy, đa dạng sinh học không nên được xem là một mục tiêu nằm bên ngoài hoạt động sản xuất và chỉ được bảo tồn trong các khu bảo tồn thiên nhiên hay những hệ sinh thái tự nhiên. Ruộng lúa, ao hồ, kênh mương, bờ ruộng, hàng cây, vùng đất ngập nước, sông ngòi, vùng cửa sông và rừng ngập mặn đều có thể đồng thời là không gian sản xuất và sinh cảnh của nhiều nhóm sinh vật. Ở quy mô cảnh quan, những thành phần này tạo nên hạ tầng sinh thái hỗ trợ sản xuất và khả năng chống chịu của hệ thống nông nghiệp.

Bằng chứng quốc tế cũng cho thấy việc gia tăng tính đa dạng của hệ thống canh tác không nhất thiết phải đánh đổi bằng giảm năng suất. Kết quả từ 98 phân tích tổng hợp, bao gồm 5.160 nghiên cứu và hơn 41.000 phép so sánh, cho thấy đa dạng hóa hệ thống nông nghiệp nhìn chung làm tăng đa dạng sinh học, các loài thụ phấn, kiểm soát sinh vật gây hại, chu trình dinh dưỡng, độ phì đất và điều tiết nước mà không làm giảm năng suất cây trồng một cách tổng thể. Tuy nhiên, hiệu quả cụ thể phụ thuộc vào điều kiện sinh thái và phương thức quản lý tại từng nơi (Tamburini và cộng sự., 2020).

Đối với tỉnh Ninh Bình hiện nay, vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt bởi không gian phát triển của tỉnh sau sáp nhập bao gồm một phổ hệ sinh thái và hệ thống sản xuất đa dạng, từ vùng đồi núi và đồng bằng, ruộng lúa, sông ngòi và đất ngập nước đến vùng cửa sông, bãi triều và ven biển. Đây là điều kiện thuận lợi để tiếp cận nông nghiệp sinh thái không chỉ ở quy mô cây trồng hay theo từng thửa ruộng, mà ở quy mô cảnh quan, trong đó sản xuất nông nghiệp, thủy sản, bảo tồn thiên nhiên và phục hồi hệ sinh thái được xem xét trong mối quan hệ chức năng với nhau.

Tham luận này vì vậy tập trung thảo luận khía cạnh làm thế nào để quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái không chỉ tạo ra nông sản với hiệu quả kinh tế cao hơn và tác động môi trường thấp hơn, mà còn duy trì và từng bước phục hồi đa dạng sinh học trong chính cảnh quan sản xuất? Từ các bằng chứng khoa học trong nước và quốc tế, tham luận đề xuất một số gợi mở cho tỉnh Ninh Bình về tổ chức cảnh quan sản xuất đa chức năng, phục hồi hạ tầng sinh thái và từng bước đưa đa dạng sinh học trở thành một trong những chỉ tiêu phản ánh chất lượng của phát triển nông nghiệp.

Tại Việt Nam, hệ sinh thái lúa không chỉ cung cấp lương thực mà còn duy trì nhiều dịch vụ thiết yếu như kiểm soát sinh học, thụ phấn, chu trình dinh dưỡng và các giá trị văn hóa của cảnh quan. (Ảnh: Pexels)
  1. Suy giảm đa dạng sinh học trong cảnh quan nông nghiệp

Trong ký ức của nhiều thế hệ cư dân nông thôn Việt Nam, đồng ruộng không chỉ là nơi sản xuất lúa gạo và hoa màu mà còn là sinh cảnh của nhiều loài sinh vật. Ao chuôm, kênh mương, ruộng ngập nước, bờ cỏ và các dải cây bụi từng tạo thành một không gian sống cho cá đồng, cua, ốc, lưỡng cư, bò sát, côn trùng, chim và một số loài thú nhỏ. Sự thưa vắng dần của nhiều loài quen thuộc là thay đổi mà người dân có thể cảm nhận qua thời gian. Tuy nhiên, Việt Nam còn thiếu các chuỗi quan trắc dài hạn cho phép định lượng đầy đủ sự thay đổi này. Dù những quan sát mang tính ký ức sinh thái không thể thay thế bằng chứng khoa học, nhưng có thể cung cấp những câu hỏi quan trọng về các biến đổi sinh thái đang diễn ra trong cảnh quan nông nghiệp.

Các nghiên cứu khoa học cho thấy những thay đổi này có thể liên quan đến nhiều quá trình diễn ra đồng thời, bao gồm thâm canh và chuyên canh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thay đổi chế độ thủy văn, ô nhiễm và sự đơn giản hóa cấu trúc cảnh quan. Ngay tại Đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu trên 19 ruộng lúa cho thấy số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có quan hệ tiêu cực với cả đa dạng phân loại và đa dạng nhóm chức năng của động vật chân khớp, trong khi tính không đồng nhất của lớp phủ đất xung quanh ruộng có tác động tích cực tới các chỉ số này (Sattler và cộng sự., 2020). Nghiên cứu đã thu thập hơn 164.000 cá thể thuộc 77 họ động vật chân khớp, cho thấy ruộng lúa là một hệ sinh thái có mạng lưới sinh vật khá phong phú chứ không chỉ là không gian dành cho cây trồng.

Các nghiên cứu trong nước cũng cho thấy mức độ thâm canh có thể liên quan tới sự đơn giản hóa quần xã sinh vật trên ruộng lúa. Điều tra năm 2017 tại ba vùng sản xuất lúa phía Bắc ghi nhận 20 loài sâu hại và 11 loài thiên địch. Trong ba địa điểm khảo sát, Giao Thủy (Nam Định cũ) có số loài thiên địch được ghi nhận thấp nhất và các tác giả nhận thấy mức độ đa dạng sinh học có xu hướng giảm khi mức độ thâm canh tăng (Cù Thị Thanh Phúc và cộng sự., 2017). Kết quả tại một số địa điểm không đủ để suy rộng thành xu thế cho toàn Đồng bằng sông Hồng, nhưng bổ sung một bằng chứng đáng chú ý ngay tại khu vực nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

Một áp lực cần đặc biệt quan tâm là thuốc bảo vệ thực vật. Nghiên cứu tại các vùng lúa miền Bắc trong giai đoạn 2014–2015 ghi nhận 74 hoạt chất khác nhau trong 811 bao bì thuốc thu thập được tại 17 khu vực khảo sát (Sattler và cộng sự., 2018). Tại Nam Định, nghiên cứu về rầy nâu và rầy lưng trắng cũng ghi nhận nông dân sử dụng thường xuyên một số hoạt chất như imidacloprid, fipronil và emamectin-benzoate. Đáng chú ý là phân tích tại các ruộng nghiên cứu không cho thấy việc sử dụng các thuốc trừ sâu chọn lọc này làm giảm mật độ rầy như kỳ vọng, gợi ý khả năng kháng thuốc hoặc sử dụng thuốc chưa phù hợp (Matsukawa-Nakata và cộng sự., 2019).

Dấu vết của hóa chất nông nghiệp cũng được ghi nhận ngoài phạm vi cây trồng. Một nghiên cứu tại Giao Thủy phân tích 12 loại thuốc bảo vệ thực vật thường sử dụng trong đất ruộng lúa và trầm tích kênh tưới cho thấy dư lượng xuất hiện khá phổ biến: isoprothiolane được phát hiện trong toàn bộ mẫu đất lúa được phân tích, chlorpyrifos trong 85% mẫu đất, trong khi isoprothiolane và propiconazole cùng xuất hiện trong 71% mẫu trầm tích kênh. Nghiên cứu đồng thời cho thấy hệ thống đê có ảnh hưởng đến phân bố không gian của một số dư lượng hóa chất trong cảnh quan (Braun và cộng sự., 2018). Điều này cho thấy tác động của hoạt động nông nghiệp cần được xem xét không chỉ trong phạm vi thửa ruộng mà cả trong mạng lưới đất–nước–kênh mương liên kết với đồng ruộng.

Trường hợp vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy cung cấp một ví dụ rõ ràng hơn về sự giao thoa giữa sản xuất nông nghiệp và một hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao. Nghiên cứu các hệ thống sản xuất tại đây cho thấy toàn bộ các hộ trồng lúa được khảo sát sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Nghiên cứu cũng ghi nhận việc không còn áp dụng các biện pháp kiểm soát dịch hại tổng hợp (IPM) trong nhóm hộ khảo sát và các vấn đề liên quan đến dòng chảy thuốc bảo vệ thực vật từ vùng lúa sang các hệ thống nuôi trồng thủy sản lân cận (Nhung và cộng sự., 2019). Nghiên cứu tiếp theo trên 96 hộ trồng lúa ở 14 thôn vùng đệm cho thấy các chỉ tiêu môi trường được xem xét, gồm quản lý phân bón, độ phì đất, quản lý thuốc bảo vệ thực vật, bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý nước, đều chưa đạt mức được nghiên cứu này phân loại là bền vững (Nhung và cộng sự., 2022).

Ở quy mô cảnh quan, biến đổi sinh cảnh còn diễn ra thông qua chuyển đổi sử dụng đất. Phân tích ảnh viễn thám tại Giao Thủy cho giai đoạn 1986–2001 cho thấy việc mở rộng nuôi tôm đã làm thay đổi mạnh vùng đất ngập nước ven biển. Có đến 63% diện tích rừng ngập mặn được xác định trên ảnh năm 1986 đã bị thay thế một phần hoặc hoàn toàn bởi ao nuôi tôm vào năm 2001. Nghiên cứu đồng thời ghi nhận sự phục hồi diện tích rừng ngập mặn trong giai đoạn 1992–2001 nhờ trồng phục hồi và bảo tồn, cho thấy biến đổi cảnh quan không nhất thiết chỉ diễn ra theo một chiều nếu có can thiệp quản lý phù hợp (Béland và cộng sự., 2006).

Những bằng chứng này gợi ý rằng vấn đề không chỉ là sự biến mất của từng loài mà rộng hơn là quá trình đơn giản hóa sinh thái của cảnh quan sản xuất. Khi hệ thống sản xuất trở nên đồng nhất hơn, các sinh cảnh nhỏ bị mất đi, mức sử dụng hóa chất tăng và sự kết nối giữa ruộng, ao, mương, sông và đất ngập nước bị thay đổi, điều kiện tồn tại của nhiều nhóm sinh vật cũng thay đổi theo. Ngược lại, tính không đồng nhất của cảnh quan có thể góp phần duy trì đa dạng sinh học ngay trong những vùng sản xuất thâm canh (Sattler và cộng sự., 2020).

Tuy nhiên, bằng chứng hiện có vẫn chưa đủ để kết luận một cách định lượng rằng đa dạng sinh học của toàn bộ cảnh quan nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng đã giảm bao nhiêu trong vài thập kỷ qua. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào từng nhóm sinh vật, địa điểm hoặc áp lực cụ thể. Đáng chú ý, vẫn thiếu các chuỗi quan trắc dài hạn đối với những nhóm có thể phản ánh khá trực quan sức khỏe của cảnh quan nông nghiệp như chim đồng ruộng, lưỡng cư, cá đồng, côn trùng thụ phấn và các loài động vật hoang dã phổ biến. Khoảng trống này cho thấy chúng ta có thể theo dõi khá chính xác diện tích, năng suất và sản lượng nông nghiệp qua nhiều năm, nhưng khó trả lời một câu hỏi tưởng như đơn giản: trên chính những cánh đồng đó, thiên nhiên đang tăng lên hay tiếp tục mất đi?

Do đó, chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái cần vượt ra ngoài mục tiêu giảm một số đầu vào gây ô nhiễm. Vấn đề dài hạn hơn là duy trì và phục hồi đa dạng sinh cảnh, loài và chức năng sinh thái trong toàn bộ cảnh quan sản xuất. Đây cũng là cơ sở để xem đa dạng sinh học không chỉ như một đối tượng cần bảo vệ, mà như một thành phần cấu thành và một chỉ báo về sức khỏe của hệ thống nông nghiệp.

Nghiên cứu trên 19 ruộng lúa tại Đồng bằng sông Hồng cho thấy, đa dạng sinh học có mối liên hệ với mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và sự đa dạng của cảnh quan xung quanh. (Ảnh: Pexels)
  1. Đa dạng sinh học là một cấu phần của hệ thống sản xuất nông nghiệp

Trong cách tiếp cận truyền thống, sản xuất nông nghiệp thường được mô tả thông qua các yếu tố đầu vào như đất, nước, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lao động và công nghệ. Tuy nhiên, cách tiếp cận hệ sinh thái cho thấy sản xuất còn phụ thuộc vào nhiều quá trình sinh học diễn ra trong đất, trên đồng ruộng và trong cảnh quan xung quanh. Các quá trình này được thực hiện bởi nhiều loài sinh vật không phải là đối tượng sản xuất trực tiếp nhưng tham gia duy trì độ phì đất, chu trình dinh dưỡng, thụ phấn, kiểm soát sinh vật gây hại, phân hủy vật chất hữu cơ và điều tiết nước. FAO gọi đây là đa dạng sinh học liên quan – một bộ phận quan trọng của đa dạng sinh học cho lương thực và nông nghiệp (FAO, 2019).

Ở dưới mặt đất, vi khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh, tuyến trùng, giun đất và nhiều nhóm động vật không xương sống tham gia phân hủy chất hữu cơ, chu chuyển dinh dưỡng và hình thành cấu trúc đất. Báo cáo toàn cầu về đa dạng sinh học đất nhấn mạnh vai trò của các sinh vật này đối với độ phì, khả năng giữ và điều tiết nước, chu trình carbon và sức khỏe của hệ sinh thái; đồng thời cho thấy thâm canh, ô nhiễm và quản lý đất không phù hợp có thể làm suy giảm đa dạng và chức năng sinh học của đất (FAO và cộng sự., 2020). Vì vậy, khái niệm “đất phì nhiêu” không nên chỉ giới hạn ở hàm lượng dinh dưỡng hay các tính chất lý–hóa mà cần bao gồm cả thành phần và hoạt động sinh học của đất.

Ở cấp độ đồng ruộng, nhiều nhóm sinh vật tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của hệ thống sản xuất. Côn trùng thụ phấn hỗ trợ quá trình sinh sản của nhiều cây trồng; nhện, bọ xít bắt mồi, ong ký sinh và các nhóm thiên địch góp phần điều hòa quần thể sâu hại. Trong hệ thống ruộng nước, cá, động vật không xương sống và vi sinh vật tham gia vào mạng lưới thức ăn và chu trình vật chất. Các nghiên cứu về hệ sinh thái lúa ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, cho thấy ruộng lúa cung cấp một tập hợp dịch vụ hệ sinh thái rộng hơn sản lượng lúa, bao gồm kiểm soát sinh học, chu trình dinh dưỡng, điều tiết nước và các giá trị văn hóa của cảnh quan (Settele và cộng sự., 2018).

Những chức năng này có ý nghĩa trực tiếp đối với cách quản lý sản xuất. Ví dụ, sử dụng thuốc trừ sâu phổ rộng có thể tác động đồng thời đến sâu hại và các loài thiên địch, trong khi việc duy trì nguồn thức ăn và sinh cảnh cho thiên địch có thể tăng cường khả năng kiểm soát sinh học. Các thử nghiệm về kỹ thuật sinh thái trong hệ thống lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy việc sử dụng thực vật có hoa trên bờ ruộng để hỗ trợ thiên địch có thể giúp giảm sử dụng thuốc trừ sâu mà không nhất thiết làm giảm năng suất (Horgan và cộng sự., 2022). Ở quy mô rộng hơn, kết quả từ 98 phân tích tổng hợp với hơn 41.000 phép so sánh cho thấy đa dạng hóa hệ thống nông nghiệp nhìn chung làm tăng đa dạng sinh học và nhiều dịch vụ hệ sinh thái, và không ghi nhận sự suy giảm năng suất một cách nhất quán ở cấp độ tổng hợp (Tamburini và cộng sự., 2020).

Ở cấp độ cảnh quan, khả năng duy trì những quá trình sinh thái này không chỉ phụ thuộc vào cách quản lý từng thửa ruộng mà còn vào môi trường xung quanh. Một số loài sinh vật cần sử dụng nhiều loại sinh cảnh khác nhau trong vòng đời; các quần thể thiên địch, sinh vật thụ phấn và sinh vật thủy sinh cũng có thể phụ thuộc vào những nơi trú ẩn hoặc nguồn thức ăn nằm ngoài diện tích canh tác trực tiếp. Bằng chứng từ các vùng trồng lúa miền Bắc Việt Nam cho thấy tính không đồng nhất của lớp phủ đất trong cảnh quan có quan hệ tích cực với đa dạng phân loại và đa dạng chức năng của động vật chân khớp (Sattler và cộng sự., 2020). Qau đó cho thấy hiệu quả sinh thái của một thửa ruộng không hoàn toàn được quyết định trong ranh giới của chính thửa ruộng đó.

Cách tiếp cận này cũng giúp phân biệt hai khía cạnh có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Đa dạng sinh học phục vụ nông nghiệp nhấn mạnh những sinh vật và chức năng có lợi trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất, như sinh vật đất, thụ phấn, thiên địch hay chu trình dinh dưỡng. Trong khi đó, đa dạng sinh học trong cảnh quan nông nghiệp có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả cá, lưỡng cư, chim, bò sát, thực vật hoang dã và các loài khác cùng tồn tại trong cảnh quan dù giá trị kinh tế trực tiếp của chúng chưa được xác định.

Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng từ góc nhìn sinh thái. Nếu chỉ bảo tồn những loài có chức năng sản xuất đã được chứng minh, đa dạng sinh học dễ bị thu hẹp thành một tập hợp “dịch vụ” dành cho con người. Trong khi đó, một nền nông nghiệp sinh thái còn cần duy trì khả năng cùng tồn tại của sản xuất với các dạng sống khác trong cảnh quan. Hai mục tiêu này không đối lập nhau. Một cảnh quan duy trì nhiều sinh cảnh và nhóm loài sinh vật thường đồng thời tạo điều kiện cho các quá trình sinh thái hỗ trợ sản xuất, nhưng giá trị của đa dạng sinh học không nhất thiết phải được chứng minh bằng lợi ích kinh tế trực tiếp đối với từng loài.

Theo cách nhìn đó, ruộng lúa không chỉ là nơi sản xuất lúa, đất không chỉ là giá thể cung cấp dinh dưỡng, và các sinh vật xuất hiện trong vùng sản xuất không chỉ được chia thành cây trồng, vật nuôi và sinh vật gây hại. Hệ thống nông nghiệp là một hệ sinh thái được con người quản lý, trong đó sản xuất phụ thuộc vào các quá trình sinh học và đồng thời tạo ra sinh cảnh cho nhiều loài khác.

Vì vậy, chuyển đổi sang hướng nông nghiệp sinh thái cần mở rộng tư duy từ cây trồng và thửa ruộng sang hệ sinh thái và cảnh quan sản xuất. Mục tiêu không phải đưa hệ thống nông nghiệp trở lại trạng thái tự nhiên, mà là tổ chức sản xuất sao cho các quá trình sinh thái cần thiết vẫn có không gian để hoạt động và đa dạng sinh học có khả năng cùng tồn tại với sản xuất. Từ cơ sở đó, vấn đề tiếp theo không còn chỉ là đa dạng sinh học có ích gì cho một thửa ruộng, mà là toàn bộ cảnh quan cần được tổ chức như thế nào để vừa sản xuất, vừa duy trì các chức năng sinh thái và không gian cho thiên nhiên.

  1. Tiếp cận đa dạng sinh học ở quy mô cảnh quan

Các hệ thống sản xuất nông nghiệp không tồn tại độc lập mà nằm trong một cảnh quan liên kết về sinh thái và thủy văn. Nước, phù sa, chất dinh dưỡng, các chất ô nhiễm và sinh vật có thể di chuyển giữa đồng ruộng, ao hồ, kênh mương, sông ngòi, đất ngập nước, vùng cửa sông và ven biển. Vì vậy, tác động của hoạt động sản xuất tại một khu vực có thể lan truyền sang các hệ sinh thái khác; ngược lại, những sinh cảnh tự nhiên và bán tự nhiên nằm ngoài diện tích canh tác trực tiếp có thể cung cấp các chức năng quan trọng cho nông nghiệp và thủy sản.

Đối với Ninh Bình hiện nay, cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp bởi không gian của tỉnh sau sáp nhập tạo thành một phổ cảnh quan từ vùng đồi núi và núi đá vôi, đồng bằng nông nghiệp và hệ thống sông, tới vùng trũng, đất ngập nước, cửa sông, bãi triều và ven biển. Thay vì xem những không gian này như các vùng chức năng tương đối độc lập, có thể xem chúng như các bộ phận của một hệ thống liên kết theo các chiều thượng nguồn – hạ lưu, nước ngọt – nước lợ – ven biển và sản xuất – hệ sinh thái tự nhiên.

Ruộng lúa là một ví dụ điển hình. Ngoài chức năng sản xuất lương thực, ruộng nước cùng với ao chuôm, kênh mương thủy lợi tạo thành một mạng lưới sinh cảnh cho nhiều sinh vật thủy sinh. Các nghiên cứu ngay tại Nam Định cho thấy hệ thống này có thể duy trì mức đa dạng đáng kể. Điều tra tại ruộng lúa, mương tưới và ao hồ ở hai xã thuộc Nam Định (cũ) đã ghi nhận 15 loài ốc nước ngọt thuộc 8 họ, với thành phần loài khác nhau giữa các dạng thủy vực (Madsen và cộng sự., 2015). Kết quả này cho thấy những cấu phần vốn thường được nhìn nhận chủ yếu theo chức năng sản xuất và thủy lợi cũng đồng thời là sinh cảnh của đa dạng sinh học.

Ở quy mô rộng hơn, hệ thống sông ngòi của vùng đồng bằng ven biển cũng duy trì khu hệ thủy sinh phong phú. Các khảo sát khu hệ cá trong hệ thống sông Ba Lạt – sông Đáy và các thủy vực liên quan ở khu vực Nam Định đã ghi nhận mức độ đa dạng loài đáng kể. Những bằng chứng như vậy không tự chúng chứng minh rằng đa dạng sinh học đang tăng hay giảm, nhưng cho thấy tính kết nối giữa sông, kênh, vùng nước nội đồng và cửa sông có ý nghĩa đối với việc duy trì các quần xã thủy sinh. Đây là khía cạnh cần được xem xét khi cải tạo thủy lợi, kiểm soát nước và tổ chức lại không gian sản xuất.

Giá trị sinh thái của mạng lưới ruộng–mương–sông này đồng thời phụ thuộc vào chất lượng môi trường. Như đã trình bày ở phần trên, dư lượng một số thuốc bảo vệ thực vật đã được phát hiện trong cả đất ruộng lúa và trầm tích kênh tưới tại Giao Thủy (Braun và cộng sự., 2018). Điều đó cho thấy ranh giới sinh thái của hoạt động nông nghiệp không trùng với ranh giới đồng ruộng. Quản lý hóa chất, nước và đa dạng sinh học vì vậy cần được xem xét ở quy mô rộng hơn, đặc biệt tại những nơi mạng lưới thủy lợi nông nghiệp kết nối với các vùng đất ngập nước có giá trị bảo tồn cao.

Ở phía cuối của hệ thống cảnh quan, cửa sông, bãi triều và rừng ngập mặn tạo nên vùng chuyển tiếp giữa hệ sinh thái trên đất liền và biển. Các nghiên cứu tổng hợp cho thấy rừng ngập mặn là nơi kiếm ăn, trú ẩn và ương dưỡng quan trọng đối với nhiều loài cá vùng cửa sông và ven biển (Whitfield, 2017). Do đó, gìn giữ và bảo tồn rừng ngập mặn không chỉ có ý nghĩa đối với đa dạng sinh học, lưu giữ carbon hay bảo vệ bờ biển, mà còn cần được xem xét trong mối quan hệ với nguồn lợi thủy sản và sinh kế ven biển.

Vùng cửa sông và bãi triều còn có một chức năng quan trọng khác: chúng là sinh cảnh của nhiều loài chim nước và chim di cư. Vùng đất ngập nước ven biển Xuân Thủy có các bãi bồi, vùng triều, rừng ngập mặn và các thủy vực tạo nên một tổ hợp sinh cảnh có giá trị cao đối với chim nước. Vì vậy, trong một cảnh quan sản xuất ven biển, giá trị của đất ngập nước không chỉ được phản ánh qua lượng thủy sản hay diện tích có thể đưa vào nuôi trồng, mà còn qua chức năng duy trì đa dạng sinh học ở quy mô vùng và trên các tuyến chim di cư quốc tế.

Cách tiếp cận cảnh quan vì vậy làm thay đổi cách nhìn về những phần diện tích không trực tiếp tạo ra nông thủy sản. Một bờ ruộng, ao chuôm, vùng trũng, dải thực vật ven sông, bãi triều hay rừng ngập mặn có thể không tạo ra sản lượng hàng hóa tương đương với đất canh tác hoặc ao nuôi, nhưng chúng có thể cung cấp sinh cảnh, kết nối sinh thái, điều tiết nước, bảo vệ bờ biển và hỗ trợ nguồn lợi tự nhiên. Giá trị của chúng cần được đánh giá thông qua chức năng đối với toàn hệ thống, thay vì chỉ thông qua sản lượng trên từng đơn vị diện tích.

Một yêu cầu quan trọng khác là duy trì tính kết nối sinh thái. Đối với hệ sinh thái thủy sinh, cần quan tâm tới sự kết nối giữa ruộng, ao, mương, sông, vùng trũng, cửa sông và ven biển, trong giới hạn phù hợp với yêu cầu sản xuất và phòng chống thiên tai. Đối với các loài sinh vật trên cạn, bờ ruộng có thực vật, hàng cây, dải cây ven sông và các mảnh sinh cảnh tự nhiên có thể tạo thành nơi trú ẩn và vùng đệm giữa những sinh cảnh lớn hơn. Khi từng cấu phần nhỏ bị loại bỏ trên diện rộng, tác động tích lũy có thể làm cảnh quan ngày càng đồng nhất và chia cắt.

Do đó, một định hướng quan trọng đối với Ninh Bình là nhận diện hạ tầng sinh thái của cảnh quan sản xuất song song với hạ tầng phục vụ sản xuất. Hạ tầng sinh thái này có thể bao gồm bờ ruộng và dải thực vật, ao và vùng trũng, hành lang ven sông, đất ngập nước, vùng cửa sông, bãi triều và rừng ngập mặn. Điều này không có nghĩa là phải chuyển thành các dạng khu bảo tồn. Vấn đề là nhận diện những cấu phần có chức năng sinh thái quan trọng và tránh làm mất hoặc chia cắt chúng trong quá trình chỉnh trang đồng ruộng, phát triển thủy lợi, nuôi trồng thủy sản và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Theo cách tiếp cận đó, bảo tồn thiên nhiên và phục hồi đa dạng sinh học không phải là một lớp quy hoạch tách biệt khỏi sản xuất nông nghiệp, mà trở thành một thành phần của quy hoạch cảnh quan. Đối với Ninh Bình, đây là cơ sở để kết nối nông nghiệp sinh thái, quản lý nước, đất ngập nước, rừng ngập mặn và thủy sản trong cùng một không gian phát triển chung.

Nông nghiệp sinh thái tại Ninh Bình hướng tới kết hợp sản xuất hiệu quả với bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì các chức năng sinh thái của toàn cảnh quan. (Ảnh: Pexels)
  1. Chuyển đổi nhân khẩu học và yêu cầu nhìn lại mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp

Thảo luận về tương lai của nông nghiệp sinh thái cũng cần được đặt trong bối cảnh dài hạn về  chuyển đổi nhân khẩu học và chuyển dịch cơ cấu lao động. Trong nhiều thập kỷ, phát triển nông nghiệp Việt Nam diễn ra trong điều kiện dân số tăng nhanh, lực lượng lao động nông thôn dồi dào và yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực ở mức cao. Những điều kiện nền tảng này đang thay đổi.

Theo dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024–2074 của Cục Thống kê, dân số nông thôn theo phương án mức sinh trung bình được dự báo giảm từ khoảng 62,7 triệu người năm 2024 xuống 58,6 triệu năm 2039 và khoảng 54,0 triệu năm 2049, sau đó tiếp tục giảm trong những thập kỷ tiếp theo. Trong khi đó, dân số thành thị tiếp tục tăng và đến khoảng giữa thập niên 2040 có thể tương đương dân số nông thôn. Quá trình này diễn ra đồng thời với già hóa dân số: Việt Nam được dự báo bước vào giai đoạn dân số già từ năm 2034, khi nhóm từ 65 tuổi trở lên đạt 14% dân số; đến khoảng năm 2050, tỷ trọng này vượt 21% (Cục Thống kê & UNFPA, 2025).

Chuyển đổi cơ cấu lao động đã diễn ra trước khi những thay đổi dân số dài hạn này trở nên rõ nét. Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sử dụng khoảng 13,7 triệu lao động, chiếm 26,5% tổng số người có việc làm của cả nước và tiếp tục giảm so với năm trước (Cục Thống kê, 2025). Vì vậy, không nên đồng nhất dân số nông thôn với lao động nông nghiệp. Một bộ phận ngày càng lớn cư dân nông thôn làm việc trong công nghiệp và dịch vụ, trong khi hoạt động nông nghiệp được duy trì bởi một lực lượng lao động ngày càng nhỏ hơn.

Xu hướng này thể hiện khá rõ tại Đồng bằng sông Hồng. Nghiên cứu gần đây dựa trên khảo sát 600 hộ và 60 phỏng vấn sâu tại 13 xã trong vùng cho thấy 83% người được khảo sát trên 50 tuổi, phản ánh tình trạng già hóa của lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp. Khi xem xét nghề nghiệp của các thành viên hộ gia đình, 79% nhóm lớn tuổi làm nông nghiệp, trong khi tỷ lệ này chỉ là 15% ở nhóm trẻ; ngược lại, 69% nhóm trẻ làm công việc phi nông nghiệp. Nghiên cứu cũng ghi nhận 83% người trả lời không mong muốn con cái tiếp tục hoặc quay lại làm nông nghiệp, chủ yếu do thu nhập thấp hơn các nghề khác, biến động thu nhập và những hạn chế trong tiếp cận đất sản xuất (Phung và cộng sự., 2026).

Những thay đổi này có thể tác động sâu sắc tới cách tổ chức không gian sản xuất. Khi lao động nông nghiệp giảm và già hóa, nhu cầu cơ giới hóa, tích tụ hoặc tập trung đất đai và các dịch vụ sản xuất có xu hướng gia tăng. Nghiên cứu tại Đồng bằng sông Hồng cho thấy quá trình tập trung đất đai có thể giảm nhu cầu lao động trực tiếp, tạo điều kiện sử dụng máy móc và đồng thời thúc đẩy dịch chuyển lao động sang hoạt động phi nông nghiệp (Phung và cộng sự., 2026). Vì vậy, cảnh quan nông nghiệp của vài thập kỷ tới có thể được quản lý bởi ít lao động hơn, với quy mô sản xuất và mức độ cơ giới hóa khác đáng kể so với hiện nay.

Tuy nhiên, chuyển đổi nhân khẩu học không tự động tạo ra lợi ích cho đa dạng sinh học. Tập trung đất đai và cơ giới hóa có thể giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nhưng cũng có thể dẫn đến việc loại bỏ bờ ruộng, ao chuôm, hàng cây và các sinh cảnh bán tự nhiên để tạo ra những không gian sản xuất đồng nhất hơn. Ở chiều ngược lại, một số diện tích nhỏ lẻ, khó cơ giới hóa, thường xuyên úng ngập hoặc có hiệu quả kinh tế thấp có thể dần được sử dụng ít hơn hoặc bỏ canh tác. Nếu không có định hướng, những thay đổi đó không nhất thiết tạo ra các hệ sinh thái có giá trị. Tác động đối với đa dạng sinh học vì vậy phụ thuộc vào cách chúng ta chủ động quản lý quá trình chuyển đổi đất đai, chứ không đơn thuần vào việc số người làm nông nghiệp tăng hay giảm.

Chính bối cảnh này tạo ra lý do để xem xét lại một giả định đã chi phối phát triển nông nghiệp trong thời gian dài: mọi đơn vị đất nông nghiệp đều cần được tối đa hóa sản lượng. Yêu cầu bảo đảm năng lực sản xuất và an ninh lương thực vẫn rất quan trọng, nhưng tiến bộ về giống, công nghệ, cơ giới hóa và năng suất có thể cho phép phân hóa rõ ràng hơn mục tiêu sử dụng đất. Những vùng có lợi thế cao có thể tiếp tục được ưu tiên cho sản xuất hàng hóa hiệu quả; trong khi những diện tích thường xuyên ngập, khó canh tác, năng suất thấp hoặc có vị trí quan trọng đối với kết nối sinh thái có thể được xem xét cho sản xuất kết hợp, vùng đệm, đất ngập nước hoặc khu vực phục hồi sinh thái.

Theo cách tiếp cận đó, mục tiêu dần chuyển từ tối đa hóa sản lượng trên từng đơn vị diện tích sang tối ưu hóa đa chức năng của cảnh quan. Một đơn vị đất không chỉ tạo ra lương thực hay thu nhập mà còn có thể tham gia điều tiết nước, duy trì độ phì nhiêu đất, giảm rủi ro khí hậu, cung cấp sinh cảnh, hỗ trợ nguồn lợi thủy sản và duy trì kết nối sinh thái. Giá trị tương đối của các chức năng này sẽ khác nhau giữa các vị trí và cần được xác định thông qua quy hoạch thay vì áp dụng một mục tiêu sử dụng đất giống nhau cho toàn bộ cảnh quan.

Đối với Ninh Bình, cách nhìn dài hạn này đặc biệt có ý nghĩa vì tỉnh đồng thời có những vùng nông nghiệp thâm canh, vùng trũng và đất ngập nước, hệ thống sông ngòi, vùng cửa sông và ven biển. Quy hoạch cho giai đoạn 2040–2050 vì vậy không nhất thiết chỉ ngoại suy cơ cấu sử dụng đất hiện tại. Chuyển đổi nhân khẩu học và lao động có thể trở thành một cơ hội để chủ động thiết kế lại một phần cảnh quan sản xuất, trong đó những vùng có lợi thế được hiện đại hóa và sử dụng hiệu quả hơn, còn những không gian có giá trị sinh thái được duy trì hoặc phục hồi để cung cấp các chức năng mà cảnh quan thâm canh đã làm suy giảm.

Theo phương hướng đó, vấn đề đối với nông nghiệp trong vài thập kỷ tới có thể được mở rộng: không chỉ là mỗi hecta tạo ra bao nhiêu nông thủy sản, mà còn là mỗi hecta và toàn bộ cảnh quan tạo ra tổ hợp giá trị nào cho sản xuất, con người và hệ sinh thái.

  1. Cơ hội tiếp cận cảnh quan sản xuất theo hướng đa chức năng và giàu đa dạng sinh học

Việc hình thành tỉnh Ninh Bình mới từ địa bàn Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam trước đây tạo ra một không gian có sự đa dạng đáng kể về địa hình, hệ sinh thái và phương thức sản xuất. Trong cùng một địa giới cấp tỉnh hiện diện vùng núi đá vôi và rừng, vùng đồng bằng thâm canh nông nghiệp, hệ thống sông ngòi và vùng trũng, đất ngập nước nội địa, vùng cửa sông, bãi triều, rừng ngập mặn và vùng sản xuất thủy sản ven biển. Chính sự đa dạng này tạo điều kiện để Ninh Bình tiếp cận nông nghiệp sinh thái ở quy mô cảnh quan, thay vì chỉ thông qua từng ngành hàng hoặc từng mô hình sản xuất riêng biệt.

Đặc điểm đáng chú ý là các hệ thống sản xuất và sinh thái này không phân bố ngẫu nhiên mà tạo thành một dải sinh thái từ nội địa tới ven biển. Ở phía nội địa là các vùng núi đá vôi, rừng và đất ngập nước như khu vực Vân Long–Kim Bảng–Tam Chúc; tiếp đến là vùng đồng bằng sản xuất nông nghiệp với diện tích lúa lớn, xen kẽ sông ngòi, kênh mương, ao chuôm và các vùng trũng; xa hơn về phía biển là vùng cửa sông, bãi triều, rừng ngập mặn và các hệ thống nuôi trồng, khai thác thủy sản. Chẳng hạn, Vân Long là một vùng đất ngập nước nằm giữa khu vực dân cư đông đúc và đất nông nghiệp thâm canh, đồng thời thực hiện chức năng chứa và cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.

Quy mô sản xuất nông nghiệp trong không gian này vẫn rất lớn. Theo thông tin ngành nông nghiệp tỉnh công bố năm 2025, trên địa bàn Ninh Bình mới có trên 148 nghìn ha đất trồng lúa, 37 nghìn ha đất lâm nghiệp và 31 nghìn ha đất nuôi trồng thủy sản. Cùng với đó là sự khác biệt giữa các vùng sản xuất, từ lúa, rau màu và chăn nuôi ở đồng bằng đến nuôi ngao, tôm, cua và các hệ thống thủy sản vùng ven biển. Điều này cho thấy bài toán đa dạng sinh học trong nông nghiệp của Ninh Bình không phải vấn đề bên lề, mà liên quan trực tiếp tới một phần đáng kể không gian sử dụng đất của tỉnh.

Cảnh quan này đồng thời cũng đang biến đổi. Phân tích viễn thám tại Nam Định trong giai đoạn 2003–2011 cho thấy biến động sử dụng đất diễn ra mạnh dưới tác động của đô thị hóa, hiện đại hóa và các quá trình tự nhiên như bồi tụ, xói lở tại vùng cửa sông ven biển (Lê Đức Hạnh và cộng sự., 2014). Riêng tại vùng ven biển Nam Định, phân tích giai đoạn 2005–2019 cho thấy diện tích đất lúa giảm khoảng 3.912 ha và đất lâm nghiệp giảm khoảng 1.492 ha, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản tăng gần 5.953 ha (Nguyễn Thị Phương Hoa và cộng sự., 2020). Những con số này không tự chúng cho biết đa dạng sinh học tăng hay giảm, nhưng cho thấy cấu trúc của cảnh quan sản xuất đang thay đổi đáng kể, kéo theo thay đổi về loại hình và mức độ kết nối của các sinh cảnh.

Trong bối cảnh đó, một trong những cách tiếp cận phù hợp là xem cảnh quan nông nghiệp như một hệ thống đa chức năng. Sản xuất lương thực, thực phẩm và tạo thu nhập vẫn là chức năng quan trọng, nhưng cùng một không gian còn có thể thực hiện các chức năng điều tiết nước, duy trì độ phì nhiêu đất, cung cấp sinh cảnh cho sinh vật, duy trì nguồn lợi thủy sinh, lưu giữ carbon, giảm rủi ro thiên tai và tạo giá trị cảnh quan. Vấn đề vì vậy không phải lựa chọn giữa sản xuất và thiên nhiên, mà là xác định ở đâu cần ưu tiên sản xuất, ở đâu cần duy trì các chức năng sinh thái, và ở đâu hai nhóm chức năng này có thể được kết hợp.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với thực tế rằng không phải mọi diện tích nông nghiệp đều có cùng năng suất, điều kiện tự nhiên hay vai trò sinh thái. Những vùng có lợi thế cao cho sản xuất hàng hóa có thể tiếp tục được đầu tư cho sản xuất hiệu quả, đồng thời duy trì những cấu phần hạ tầng sinh thái cần thiết. Những vùng thường xuyên ngập, khó canh tác hoặc có giá trị cao đối với điều tiết nước và kết nối sinh thái có thể phù hợp hơn với sản xuất kết hợp, đất ngập nước hoặc các hình thức sử dụng đất tạo nhiều chức năng. Tại vùng ven biển, quy hoạch cần xem xét đồng thời không gian cho nuôi trồng thủy sản, bãi triều, cửa sông và rừng ngập mặn thay vì tối ưu hóa riêng từng loại hình sử dụng đất.

Ninh Bình còn có lợi thế là đã có những chuyển động theo hướng giảm tác động môi trường của sản xuất. Chẳng hạn, mô hình tưới ướt–khô xen kẽ trong sản xuất lúa đã được mở rộng trên hàng nghìn hecta tại khu vực Nam Định trước đây, với mục tiêu đồng thời giảm nước tưới và phát thải khí nhà kính. Những sáng kiến như vậy là bước tiến quan trọng của nông nghiệp xanh. Tuy nhiên, cách tiếp cận nông nghiệp sinh thái có thể đi thêm một bước nữa: bên cạnh việc đo lượng nước tiết kiệm, phát thải giảm hay năng suất duy trì, cần hướng tới theo dõi đa dạng sinh học và các chức năng sinh thái của cảnh quan thay đổi như thế nào.

Do đó, cơ hội của Ninh Bình không chỉ nằm ở việc nhân rộng từng mô hình xanh, mà ở khả năng tổ chức các mô hình đó trong một chiến lược cảnh quan thống nhất. Một vùng lúa giảm phát thải, một khu đất ngập nước được phục hồi, một hành lang ven sông được duy trì hay một khu rừng ngập mặn được bảo vệ sẽ tạo giá trị lớn hơn nếu chúng được thiết kế như những thành phần có quan hệ chức năng trong cùng một mạng lưới sinh thái.

Theo cách nhìn này, Ninh Bình có thể trở thành một địa bàn phù hợp để thử nghiệm bài toán rộng hơn của nông nghiệp sinh thái: liệu một tỉnh có thể vừa hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa chủ động thiết kế lại cảnh quan để tạo thêm không gian cho các quá trình tự nhiên và đa dạng sinh học hay không? Lợi thế của Ninh Bình nằm ở chỗ câu hỏi này có thể được thử nghiệm trên một phổ cảnh quan gần như liên tục từ vùng núi và đất ngập nước nội địa, qua đồng bằng sản xuất, tới cửa sông và vùng ven biển.

  1. Một số định hướng bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học trong cảnh quan sản xuất

Nếu xem đa dạng sinh học là một cấu phần của hệ thống sản xuất, các giải pháp bảo tồn không thể chỉ tập trung vào những khu vực được dành riêng cho thiên nhiên. Cần tác động đồng thời vào sinh cảnh, các áp lực từ sản xuất và khả năng kết nối sinh thái của toàn cảnh quan. Đối với Ninh Bình, có thể xem xét bốn nhóm định hướng theo một trình tự ưu tiên: tránh tiếp tục mất các sinh cảnh có giá trị cao; giảm các áp lực gây suy giảm đa dạng sinh học; phục hồi những chức năng sinh thái đã mất; và tăng cường kết nối giữa các sinh cảnh.

Thứ nhất, ưu tiên duy trì những sinh cảnh tự nhiên và bán tự nhiên còn lại trong cảnh quan sản xuất. Đây cần được xem là điểm xuất phát trước khi tính tới các biện pháp phục hồi. Bờ ruộng có thảm thực vật, hàng cây, ao chuôm, vùng trũng, mương nước, dải thực vật ven sông và các mảnh đất ngập nước có thể chiếm diện tích không lớn nhưng tạo thành nơi trú ẩn, kiếm ăn và sinh sản cho nhiều nhóm sinh vật. Nghiên cứu tại các hệ thống lúa ở Việt Nam cho thấy bờ ruộng duy trì mức độ phong phú thực vật đáng kể (Fried và cộng sự., 2018), trong khi tính không đồng nhất của cảnh quan có quan hệ tích cực với đa dạng phân loại và chức năng của động vật chân khớp tại các vùng lúa miền Bắc (Sattler và cộng sự., 2020).

Nguyên tắc ở đây không phải giữ nguyên mọi bờ ruộng, ao chuôm hay dải cây bất kể giá trị và nhu cầu sản xuất. Thay vào đó, khi chỉnh trang đồng ruộng, tích tụ đất đai, cơ giới hóa hoặc cải tạo thủy lợi, cần nhận diện trước những cấu phần có giá trị sinh thái và chức năng cảnh quan quan trọng để quyết định nơi nào cần duy trì. Điều này giúp tránh tình trạng từng cấu phần nhỏ bị loại bỏ riêng lẻ nhưng tác động tích lũy cuối cùng lại làm toàn bộ cảnh quan trở nên đơn giản và đồng nhất. Trong nhiều trường hợp, duy trì sinh cảnh hiện có cũng khả thi và ít tốn kém hơn tái tạo chúng sau khi đã bị mất.

Thứ hai, giảm các áp lực từ hoạt động sản xuất lên đa dạng sinh học. Trong đó, quản lý thuốc bảo vệ thực vật nên được ưu tiên cao. Bằng chứng từ các vùng lúa miền Bắc cho thấy tần suất sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có quan hệ nghịch với đa dạng động vật chân khớp (Sattler và cộng sự., 2020); các nghiên cứu tại Giao Thủy cũng cho thấy dư lượng một số hoạt chất có thể hiện diện không chỉ trong đất ruộng mà cả trong trầm tích kênh tưới (Braun và cộng sự., 2018). Vì vậy, mục tiêu dài hạn không nên chỉ là giảm tổng lượng thuốc sử dụng, mà cần giảm rủi ro sinh thái thông qua quản lý dịch hại tổng hợp, hạn chế các hoạt chất có độc tính và rủi ro cao, sử dụng biện pháp sinh học và tăng vai trò của thiên địch.

Một hướng tiếp cận có thể hỗ trợ quá trình này là kỹ thuật sinh thái. Các thử nghiệm trong hệ thống lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy việc bố trí thực vật có hoa thích hợp trên bờ ruộng để cung cấp thức ăn và sinh cảnh cho thiên địch có thể đi cùng với giảm số lần sử dụng thuốc trừ sâu mà không cho thấy sự đánh đổi tất yếu về năng suất (Horgan và cộng sự., 2022). Bằng chứng này không nên được áp dụng máy móc cho Ninh Bình, nhưng gợi ý một nguyên tắc quan trọng: có thể chuyển một phần từ kiểm soát sinh vật gây hại bằng đầu vào hóa học sang tăng cường khả năng tự điều tiết sinh học của hệ thống sản xuất.

Thứ ba, chủ động phục hồi hạ tầng sinh thái ở những nơi các chức năng tự nhiên đã suy giảm. Các giải pháp cần được lựa chọn theo điều kiện cụ thể của từng cảnh quan như phục hồi thảm thực vật trên một số bờ ruộng; tạo dải thực vật có hoa hoặc cây bản địa; khôi phục ao chuôm và vùng trũng; phục hồi dải thực vật ven sông, kênh mương; hoặc chuyển một số diện tích canh tác kém hiệu quả sang đất ngập nước và các mô hình sản xuất kết hợp. Không nhất thiết mọi hoạt động phục hồi đều cần diện tích lớn. Mạng lưới các sinh cảnh nhỏ được bố trí phù hợp có thể tạo ra giá trị sinh thái lớn hơn nhiều điểm phục hồi biệt lập.

Đối với rừng ngập mặn, nên đặt mục tiêu chính là phục hồi sinh thái hơn là các hoạt động trồng cây. Sự thành công của công tác phục hồi sinh thái phụ thuộc vào việc xác định nguyên nhân suy thoái, điều kiện thủy văn, lựa chọn địa điểm và loài phù hợp, cũng như khả năng duy trì các chức năng của hệ sinh thái (Hai và cộng sự., 2020). Vì vậy, trước khi trồng mới cần xác định nguyên nhân khiến hệ sinh thái suy thoái và đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên hoặc tái sinh tự nhiên có hỗ trợ. Trồng cây chỉ nên là một trong các công cụ phục hồi tại những vị trí có điều kiện sinh thái phù hợp. Kết quả phục hồi cũng không nên chỉ được đánh giá bằng diện tích trồng hay tỷ lệ cây sống mà bằng sự hình thành cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, bao gồm khả năng cung cấp sinh cảnh cho các nhóm động thực vật thủy sinh.

Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với vùng ven biển Ninh Bình với các diện tích rừng ngập mặn nằm trong hệ thống động gồm cửa sông, bãi triều, vùng nuôi trồng và khu vực khai thác thủy sản. Bằng chứng lịch sử từ Giao Thủy cho thấy có những diện tích rừng ngập mặn bị chuyển đổi mạnh sang ao nuôi thủy sản, nhưng cũng có những khu vực được phục hồi trở lại qua các chương trình trồng và bảo tồn (Béland và cộng sự., 2006). Vì vậy, mục tiêu phục hồi rừng ven biển cần được đặt ở cấp hệ sinh thái và cảnh quan ven biển, thay vì chỉ ở cấp lô trồng rừng.

Thứ tư, chuyển từ bảo tồn và phục hồi từng điểm sang duy trì tính kết nối của toàn cảnh quan. Các khu vực ao chuôm, dải cây, bờ ruộng hay khu đất ngập nước riêng lẻ đều có giá trị nhất định, nhưng giá trị sinh thái có thể tăng đáng kể khi chúng tạo thành một mạng lưới. Đối với sinh vật trên cạn, hàng cây, bờ ruộng có thực vật, dải cây ven sông và các mảnh sinh cảnh tự nhiên có thể đóng vai trò như các vùng đệm giữa những khu vực sinh cảnh lớn hơn. Đối với hệ sinh thái thủy sinh, cần quan tâm tới khả năng kết nối giữa đồng ruộng, ao hồ, kênh mương, sông ngòi, vùng trũng, cửa sông và vùng ven biển, trong giới hạn phù hợp với yêu cầu kiểm soát lũ, tiêu úng và sản xuất.

Bốn nhóm định hướng này không hàm ý áp dụng cùng mô hình thân thiện với thiên nhiên ở tất cả các khu vực. Mức độ và hình thức dành không gian cho đa dạng sinh học cần được phân hóa theo chức năng của từng cảnh quan. Trong vùng sản xuất hàng hóa tập trung, trọng tâm có thể là giảm rủi ro hóa chất và duy trì một mạng lưới hạ tầng sinh thái phù hợp. Ở những vùng trũng hoặc đất sản xuất hiệu quả thấp, có thể dành nhiều không gian hơn cho đất ngập nước và sản xuất kết hợp. Tại vùng ven biển, trọng tâm có thể chuyển sang bảo vệ rừng ngập mặn hiện có, phục hồi những khu vực phù hợp và duy trì kết nối với bãi triều, cửa sông và vùng nuôi trồng, đánh bắt thủy sản.

Về dài hạn, mục tiêu không phải đưa cảnh quan nông nghiệp trở lại trạng thái tự nhiên trong quá khứ, mà xây dựng một hệ thống sản xuất hiện đại nhưng vẫn duy trì được các quá trình sinh thái thiết yếu. Cơ giới hóa, công nghệ và sản xuất quy mô lớn không nhất thiết đối lập với đa dạng sinh học nếu các yêu cầu về bảo vệ sinh cảnh và kết nối sinh thái được đưa vào ngay từ khâu quy hoạch và thiết kế hệ thống sản xuất. Theo cách đó, bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học trở thành một phần của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, thay vì một biện pháp khắc phục môi trường sau khi các quyết định sản xuất đã được xác lập.

  1. Từ chỉ tiêu sản xuất đến chỉ tiêu sức khỏe sinh thái của cảnh quan nông nghiệp

Điều kiện quan trọng để đưa đa dạng sinh học vào quản lý nông nghiệp là phải có khả năng đo lường sự thay đổi theo thời gian. Hệ thống thống kê nông nghiệp hiện nay theo dõi khá chi tiết diện tích, năng suất, sản lượng và nhiều đặc điểm của hoạt động sản xuất. Việt Nam cũng đã bắt đầu đo lường tính bền vững của nông nghiệp theo Chỉ tiêu phát triển bền vững SDG 2.4.1 về “tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả và bền vững”. Chỉ tiêu này đã được lồng ghép trong Điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020 trên mẫu 33.376 hộ và hiện được đưa vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.

SDG 2.4.1 là một bước tiến đáng chú ý vì đánh giá đồng thời các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của sản xuất nông nghiệp thông qua 11 chỉ tiêu thành phần. Cách tiếp cận này cho phép phân loại diện tích sản xuất ở các mức “cao”, “chấp nhận được” và “không bền vững”, thay vì chỉ đánh giá sản xuất thông qua năng suất hay sản lượng. Việc chỉ tiêu này tiếp tục được cập nhật trong Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cho thấy theo dõi nông nghiệp bền vững đang dần trở thành một phần của hệ thống thống kê chính thức.

Tuy nhiên, có một khác biệt quan trọng giữa đo lường các thực hành và điều kiện hỗ trợ đa dạng sinh học với đo trạng thái thực tế của đa dạng sinh học. Một hệ thống sản xuất có thể giảm thuốc bảo vệ thực vật, duy trì sinh cảnh tự nhiên hoặc áp dụng các thực hành được coi là thân thiện với đa dạng sinh học; nhưng những thông tin này chưa trực tiếp đảm bảo theo dõi được liệu quần thể chim, cá, lưỡng cư, côn trùng thụ phấn, thiên địch hay sinh vật đất đang tăng, ổn định hay tiếp tục suy giảm.

Khoảng trống này cũng tồn tại trong hệ thống theo dõi đa dạng sinh học ở cấp quốc gia. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030 xác định đa dạng sinh học là vốn tự nhiên quan trọng và nhấn mạnh tiếp cận hệ sinh thái, bảo tồn và sử dụng bền vững dịch vụ hệ sinh thái. Tuy nhiên, các chỉ tiêu giám sát chủ yếu tập trung vào diện tích và hiệu quả quản lý khu bảo tồn, khu bảo tồn biển và ven biển, các khu Ramsar, khu dự trữ sinh quyển, độ che phủ rừng, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và một số đối tượng bảo tồn ưu tiên. Qua đó cho thấy còn dư địa để phát triển các chỉ số phản ánh trạng thái đa dạng sinh học trong những cảnh quan sản xuất nằm ngoài hệ thống khu bảo tồn.

Trong bối cảnh hiện nay, chưa cần xây dựng ngay một hệ thống quan trắc phức tạp. Có thể bắt đầu bằng một bộ chỉ số sức khỏe sinh thái của cảnh quan sản xuất gồm ba nhóm bổ sung cho các chỉ tiêu kinh tế và sản xuất hiện có.

Nhóm thứ nhất là cấu trúc sinh cảnh và cảnh quan. Có thể theo dõi tỷ lệ diện tích tự nhiên và bán tự nhiên trong vùng sản xuất; mật độ hoặc chiều dài bờ ruộng có thực vật và hàng cây; số lượng và diện tích ao, vùng trũng và đất ngập nước; diện tích và chất lượng rừng ngập mặn; cũng như mức độ kết nối giữa các sinh cảnh. Phần lớn nhóm chỉ số này có thể được theo dõi bằng công nghệ GIS và viễn thám kết hợp kiểm chứng thực địa, nhờ đó chi phí quan trắc có thể giảm đáng kể.

Nhóm thứ hai là trạng thái đa dạng sinh học. Thay vì kiểm kê toàn bộ các loài, có thể lựa chọn một số nhóm loài chỉ thị có khả năng phản ánh thay đổi của cảnh quan và tương đối khả thi trong quan trắc dài hạn. Ví dụ gồm các loài chim phổ biến trong cảnh quan nông nghiệp, côn trùng thụ phấn và thiên địch, cá và một số nhóm sinh vật thủy sinh, lưỡng cư hoặc một số chỉ số sinh học đất. Bên cạnh số lượng nhóm loài được lựa chọn, phương pháp phải được chuẩn hóa và khảo sát lặp lại tại cùng địa điểm qua nhiều năm, từ đó tạo ra chuỗi dữ liệu về xu hướng.

Nhóm thứ ba là áp lực và chức năng hệ sinh thái. Nhóm này có thể bao gồm mức sử dụng và rủi ro sinh thái của thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng nước, mức sử dụng phân bón, chất hữu cơ và một số chỉ số sức khỏe đất, khả năng kiểm soát sâu hại tự nhiên hoặc các chỉ báo về nguồn lợi thủy sinh. Các chỉ số này giúp giải thích nguyên nhân của những thay đổi sinh học được quan sát, đồng thời tạo liên kết trực tiếp hơn giữa quản lý sản xuất và kết quả sinh thái.

Ba nhóm chỉ số cần được theo dõi song song với năng suất, chi phí và thu nhập, chứ không thay thế các chỉ tiêu sản xuất. Ví dụ, mô hình giảm thuốc bảo vệ thực vật nên được đánh giá đồng thời về năng suất, chi phí sản xuất, thu nhập, mức sử dụng và độc tính của thuốc, mật độ sâu hại và thiên địch. Một mô hình phục hồi đất ngập nước cần xem xét đồng thời thay đổi sử dụng đất, nguồn lợi thủy sản, điều tiết nước và phản ứng của các nhóm sinh vật. Phương thức đánh giá đồng thời này cho phép xác định liệu một giải pháp có thực sự tạo ra lợi ích kinh tế–sinh thái hay chỉ chuyển đổi từ mục tiêu này sang mục tiêu khác.

Về dài hạn, các địa phương như Ninh Bình có thể lựa chọn một số cảnh quan đại diện để hình thành đường cơ sở và bộ chỉ số sức khỏe sinh thái của cảnh quan sản xuất. Mục tiêu không phải tạo thêm một hệ thống báo cáo hành chính nặng nề, mà bổ sung một lớp thông tin hiện còn thiếu cho quản lý. Nếu dữ liệu được thu thập nhất quán, sau 5, 10 hay 20 năm chúng ta có thể biết được cùng với quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp xanh và sinh thái, thiên nhiên trong cảnh quan sản xuất đang suy giảm, được duy trì hay thực sự phục hồi.

Theo cách đó, khái niệm “nông nghiệp sinh thái” sẽ được hiện thực hóa một cách cụ thể và có khả năng kiểm chứng tốt hơn. Thành công của các mô hình nông nghiệp sinh thái không chỉ được đánh giá bằng nông sản được sản xuất như thế nào, mà còn bằng trạng thái của hệ sinh thái của nơi tạo ra nông sản.

Thành công của các mô hình nông nghiệp sinh thái không chỉ được đánh giá bằng nông sản được sản xuất như thế nào, mà còn bằng trạng thái của hệ sinh thái của nơi tạo ra nông sản. (Ảnh: Trung tâm Phát triển Tài nguyên Thiên nhiên)
  1. Thí điểm bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học trong cảnh quan sản xuất tại Ninh Bình

Những định hướng nêu trên mới chủ yếu dựa trên các bằng chứng khoa học ở Việt Nam và quốc tế. Để chuyển thành chính sách phù hợp với điều kiện địa phương, Ninh Bình có thể lựa chọn một số khu vực đại diện để triển khai chương trình thí điểm 5 năm về bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học trong cảnh quan sản xuất. Mục tiêu của chương trình không phải xây dựng thêm một mô hình trình diễn đơn lẻ, mà kiểm nghiệm một câu hỏi thực tiễn: liệu chúng ta có thể phục hồi một phần đa dạng sinh học và chức năng sinh thái của cảnh quan mà vẫn duy trì hoặc cải thiện hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất hay không?

Chương trình có thể lựa chọn ba dạng cảnh quan đại diện cho phổ sinh thái của tỉnh: (i) vùng thâm canh lúa và cây trồng hàng năm; (ii) vùng nông nghiệp gắn với sông ngòi, vùng trũng hoặc đất ngập nước; và (iii) vùng ven biển gồm sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, bãi triều và rừng ngập mặn. Không nhất thiết lựa chọn diện tích lớn ngay từ đầu mà là đảm bảo mỗi khu vực đủ lớn để quan sát được tác động ở cấp cảnh quan và có khu vực đối chứng hoặc dữ liệu nền phù hợp.

Bước đầu tiên cần là thiết lập đường cơ sở. Bên cạnh hiện trạng sản xuất, thu nhập và sử dụng đầu vào, cần lập bản đồ các cấu phần sinh thái như ao chuôm, kênh mương, bờ ruộng có thực vật, hàng cây, đất ngập nước, hành lang ven sông và rừng ngập mặn; đồng thời khảo sát một số nhóm sinh vật chỉ thị phù hợp. Các nhóm sinh vật chỉ thị có thể bao gồm thiên địch và côn trùng thụ phấn, chim đồng ruộng, cá và sinh vật thủy sinh, lưỡng cư và một số chỉ số sinh học đất. Mục tiêu không phải lập danh lục đa dạng sinh học đầy đủ của khu vực mà tạo ra một đường cơ sở có thể lặp lại và so sánh qua thời gian.

Trên cơ sở đó, mỗi cảnh quan có thể thử nghiệm một tập hợp giải pháp khác nhau. Tại vùng thâm canh, có thể kết hợp quản lý dịch hại tổng hợp với giảm các thuốc bảo vệ thực vật có rủi ro sinh thái cao, duy trì thảm thực vật trên một số bờ ruộng, dải thực vật có hoa hoặc các sinh cảnh nhỏ. Tại vùng trũng và đất ngập nước, có thể thử nghiệm phục hồi ao chuôm, vùng chứa nước tự nhiên, kết nối thủy sinh hoặc các mô hình lúa–cá và sản xuất kết hợp phù hợp với điều kiện địa phương. Tại vùng ven biển, trọng tâm có thể là phục hồi rừng ngập mặn và sinh cảnh bãi triều tại những vị trí thích hợp, đồng thời nghiên cứu quan hệ giữa phục hồi sinh cảnh với nguồn lợi thủy sản và hoạt động nuôi trồng.

Một nguyên tắc quan trọng là không đánh giá các can thiệp đơn thuần chỉ bằng chỉ số đa dạng sinh học. Chương trình cần theo dõi đồng thời ít nhất bốn nhóm kết quả: hiệu quả sản xuất; hiệu quả kinh tế đối với hộ sản xuất; mức sử dụng đầu vào và chất lượng môi trường; và trạng thái đa dạng sinh học cùng các chức năng hệ sinh thái. Ví dụ, giảm thuốc bảo vệ thực vật chỉ thực sự có ý nghĩa thực tiễn nếu đồng thời xác định được ảnh hưởng tới chi phí, năng suất, thu nhập, sâu hại và thiên địch. Tương tự, phục hồi rừng ngập mặn cần được đánh giá không chỉ bằng số hecta hoặc tỷ lệ cây sống mà cả sự hình thành sinh cảnh, nguồn lợi thủy sinh và lợi ích đối với cộng đồng phụ thuộc vào tài nguyên.

Thiết kế thí điểm cũng cần tạo điều kiện cho quản lý thích ứng. Không nên giả định ngay từ đầu rằng một giải pháp sẽ phù hợp với mọi địa điểm. Kết quả quan trắc hàng năm cần được sử dụng để điều chỉnh phương thức quản lý, lựa chọn sinh cảnh cần phục hồi và mức độ can thiệp. Cách làm này đặc biệt cần thiết đối với những hệ sinh thái động như ruộng nước, đất ngập nước và vùng cửa sông do điều kiện thủy văn và hoạt động sản xuất có thể thay đổi đáng kể giữa các năm.

Chương trình cũng có thể tạo cơ sở để thử nghiệm bộ chỉ số được đề xuất ở phần trên. Sau 5 năm, kết quả quan trọng không chỉ là một số mô hình thành công, mà còn là khả năng xác định được những chỉ số nào đủ đơn giản, đáng tin cậy và có chi phí hợp lý để tiếp tục theo dõi ở quy mô cấp tỉnh. Một phần quan trắc có thể dựa vào GIS và viễn thám; một phần có thể được thực hiện thông qua cơ quan chuyên môn, trường đại học và tổ chức nghiên cứu. Đối với những nhóm sinh vật dễ nhận biết có thể thử nghiệm phương pháp khoa học công dân với sự tham gia của nông dân và cộng đồng địa phương.

Nếu được thiết kế theo hình thức một chương trình nghiên cứu – thực hành – chính sách, thí điểm này có thể tạo ra bằng chứng thực địa cho những quyết định lớn hơn về quy hoạch nông nghiệp và sử dụng đất. Những giải pháp chứng minh được khả năng duy trì sản xuất, cải thiện thu nhập hoặc giảm chi phí đồng thời phục hồi chức năng sinh thái có thể được nhân rộng; những giải pháp không hiệu quả cần được điều chỉnh hoặc loại bỏ. Cách tiếp cận này giúp tránh việc biến nông nghiệp sinh thái thành một tập hợp khuyến nghị các mô hình trước khi có đủ bằng chứng về hiệu quả.

Quan trọng hơn, Ninh Bình có thể sử dụng chương trình thí điểm để thiết lập một đường cơ sở đa dạng sinh học cho cảnh quan nông nghiệp ngay trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay. Sau 10 hoặc 20 năm, tỉnh khi đó không chỉ có đủ dữ liệu về sản lượng và giá trị nông nghiệp đã thay đổi như thế nào, mà còn có bằng chứng để đánh giá một câu hỏi lâu dài hơn: cùng với quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, thiên nhiên và đa dạng sinh học trong cảnh quan sản xuất đã tiếp tục suy giảm, được duy trì hay thực sự bắt đầu phục hồi?

  1. Kết luận

Chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và sinh thái đang mở ra cơ hội để nhìn nhận lại mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và thiên nhiên. Nếu quá trình chuyển đổi chỉ tập trung vào giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên, tuần hoàn phụ phẩm, giảm hóa chất hay áp dụng công nghệ mới, một thành phần quan trọng vẫn có thể bị bỏ qua: trạng thái của đa dạng sinh học trong chính cảnh quan sản xuất. Một nền nông nghiệp sử dụng đầu vào hiệu quả hơn nhưng cảnh quan ngày càng đơn giản và ít loài sinh vật hơn chưa phản ánh đầy đủ ý nghĩa của một nền nông nghiệp sinh thái.

Các bằng chứng được thảo luận trong tham luân cho thấy đa dạng sinh học tham gia vào nhiều quá trình thiết yếu đối với sản xuất, từ hoạt động của hệ sinh vật đất, chu trình dinh dưỡng, thụ phấn và kiểm soát sinh học đến các mạng lưới thức ăn trong hệ sinh thái ruộng nước và nguồn lợi thủy sản. Ở quy mô rộng hơn, bờ ruộng, ao hồ, kênh mương, hành lang ven sông, đất ngập nước, bãi triều và rừng ngập mặn tạo thành hạ tầng sinh thái của cảnh quan, hỗ trợ cả sản xuất và khả năng chống chịu của hệ thống trước những biến động môi trường.

Trong một cảnh quan như Ninh Bình, chuỗi liên kết sinh thái có thể được nhìn nhận liên tục từ đất và sinh vật đất, đồng ruộng và các sinh cảnh bán tự nhiên, tới sông ngòi, đất ngập nước, cửa sông, bãi triều và rừng ngập mặn. Nông nghiệp, thủy sản và bảo tồn thiên nhiên vì vậy không nhất thiết là những lĩnh vực tách biệt, mà có thể cùng được xem xét trong một hệ thống sinh thái – kinh tế liên kết với nhau.

Bối cảnh nhân khẩu học trong những thập kỷ tới càng làm cho cách tiếp cận này trở nên cần thiết. Dân số nông thôn giảm, già hóa dân số, đô thị hóa và thay đổi lực lượng lao động sẽ làm biến đổi phương thức tổ chức sản xuất và sử dụng đất. Đây vừa là thách thức vừa tạo ra cơ hội để chuyển từ mục tiêu tối đa hóa sản lượng trên mọi đơn vị diện tích sang tối ưu hóa nhiều giá trị của cảnh quan: sản lượng và thu nhập, nhưng đồng thời là đất đai phì nhiêu, nước sạch, khả năng điều tiết nước, nguồn lợi thủy sản, khả năng chống chịu biến đổi khí hậu và tăng đa dạng sinh học.

Đối với Ninh Bình, việc hình thành một không gian tỉnh mới trải dài từ vùng nội địa đến ven biển tạo điều kiện để thử nghiệm cách tiếp cận này ở quy mô đủ lớn. Trước mắt, chưa nhất thiết phải xây dựng ngay một hệ thống chính sách phức tạp. Một chương trình thí điểm có đường cơ sở rõ ràng, thực hiện tại một số cảnh quan đại diện và theo dõi đồng thời sản xuất – kinh tế – môi trường – đa dạng sinh học có thể cung cấp bằng chứng cần thiết cho những quyết định tiếp theo. Đặc biệt, việc hình thành sớm một bộ chỉ số về sức khỏe sinh thái của cảnh quan sẽ giúp đánh giá kết quả chuyển đổi bằng những thay đổi thực tế của hệ sinh thái, thay vì chỉ bằng số lượng mô hình hoặc diện tích áp dụng các quy trình sản xuất.

Về dài hạn, mục tiêu của chúng ta không phải đưa nông nghiệp trở lại một trạng thái tự nhiên trong quá khứ, mà xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại có khả năng cùng tồn tại với thiên nhiên và phục hồi một phần những chức năng sinh thái đã bị suy giảm. Thành công của chuyển đổi nông nghiệp sinh thái khi đó có thể được nhận biết bằng các tiêu chí rất cụ thể. Cùng với năng suất, thu nhập và chất lượng nông sản được cải thiện, đất đai trở nên phì nhiêu hơn, nước ít ô nhiễm hơn, các sinh cảnh tự nhiên được duy trì tốt hơn và các loài sinh vật từng bước quay trở lại cảnh quan sản xuất.

Theo tầm nhìn này, phục hồi đa dạng sinh học không phải là mục tiêu bổ sung bên ngoài phát triển nông nghiệp mà là một trong những thước đo cho chất lượng và tính bền vững của chính quá trình phát triển đó.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Béland, M., Goïta, K., Bonn, F., & Pham, T. T. H. (2006). Assessment of land-cover changes related to shrimp aquaculture using remote sensing data: A case study in the Giao Thuy District, Vietnam. International Journal of Remote Sensing, 27(8), 1491–1510.  https://doi.org/10.1080/01431160500406888

Braun, G., Sebesvari, Z., Braun, M., Kruse, J., Amelung, W., An, N. T., & Renaud, F. G. (2018). Does sea-dyke construction affect the spatial distribution of pesticides in agricultural soils? A case study from the Red River Delta, Vietnam. Environmental Pollution, 243, 890–899. https://doi.org/10.1016/j.envpol.2018.09.050

Cục Thống kê. (2024). Kết quả khảo sát chỉ tiêu SDG 2.4.1 tại Việt Nam – Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả và bền vững. Tổng cục Thống kê. https://www.nso.gov.vn/default/2024/01/ket-qua-khao-sat-chi-tieu-sdg-2-4-1-tai-viet-nam-ty-le-dien-tich-dat-san-xuat-dat-nong-nghiep-dat-hieu-qua-va-ben-vung/ 

Cục Thống kê. (2025). Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024–2074. Cục Thống kê, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA).  https://www.nso.gov.vn/default/2025/12/du-bao-dan-so-viet-nam-giai-doan-2024-2074/

Cục Thống kê. (2025). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2024. Cục Thống kê.  https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2024/

Cù Thị Thanh Phúc, Đặng Thị Phương Lan, Nguyễn Huy Mạnh, Nguyễn Thị Hằng Nga, Lại Thị Thu Hằng, Đinh Xuân Tùng, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Hồng Nhung, Phạm Thị Tâm, Vũ Văn Cần, & Lê Thanh Tùng. (2017). Một số chỉ tiêu đa dạng sinh học của sâu hại và thiên địch trên hệ sinh thái lúa nước tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 12(85), 103–107.  https://tapchi.vaas.vn/vi/tap-chi/mot-so-chi-tieu-da-dang-sinh-hoc-cua-sau-hai-va-thien-dich-tren-he-sinh-thai-lua-nuoc-tai

FAO. (2019). The state of the world’s biodiversity for food and agriculture. Food and Agriculture Organization of the United Nations. https://www.fao.org/family-farming/detail/en/c/1305838/

FAO, ITPS, GSBI, SCBD, & EC. (2020). State of knowledge of soil biodiversity: Status, challenges and potentialities. Food and Agriculture Organization of the United Nations. https://doi.org/10.4060/cb1928en

Fried, O., Kühn, I., Schrader, J., Nguyen, V. S., & Bergmeier, E. (2018). Plant diversity and composition of rice field bunds in Southeast Asia. Paddy and Water Environment, 16(2), 359–378. https://doi.org/10.1007/s10333-018-0657-8

Hai, N. T., Dell, B., Phuong, V. T., & Harper, R. J. (2020). Towards a more robust approach for the restoration of mangroves in Vietnam. Annals of Forest Science, 77, 18. https://doi.org/10.1007/s13595-020-0921-0  

Horgan, F. G., Vu, Q., Mundaca, E. A., & Crisol-Martínez, E. (2022). Restoration of rice ecosystem services: ‘Ecological engineering for pest management’ incentives and practices in the Mekong Delta region of Vietnam. Agronomy, 12(5), 1042. https://doi.org/10.3390/agronomy12051042

Lê Đức Hạnh, Vũ Thị Thu Lan, Hoàng Thanh Sơn, & Vũ Phan Long. (2014). Application of remote sensing technology integrated geographic information system (GIS) mapping of land use changes of Nam Dinh Province. Vietnam Journal of Earth Sciences, 35(2). https://doi.org/10.15625/0866-7187/35/2/3671

Madsen, H., Dung, B. T., The, D. T., Viet, N. K., Dalsgaard, A., & Van, P. T. (2015). The role of rice fields, fish ponds and water canals for transmission of fish-borne zoonotic trematodes in aquaculture ponds in Nam Dinh Province, Vietnam. Parasites & Vectors, 8, 625.  https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26642755/

Matsukawa-Nakata, M., Chung, N. H., & Kobori, Y. (2019). Insecticide application and its effect on the density of rice planthoppers, Nilaparvata lugens and Sogatella furcifera, in paddy fields in the Red River Delta, Vietnam. Journal of Pesticide Science, 44(2), 129–135. https://doi.org/10.1584/jpestics.D18-080

Nguyen, T. T. N., Tran, H. C., Ho, T. M. H., Burny, P., & Lebailly, P. (2019). Dynamics of farming systems under the context of coastal zone development: The case of Xuan Thuy National Park, Vietnam. Agriculture, 9(7), 138. https://doi.org/10.3390/agriculture9070138

Nhung, N. T. T., Cuong, T. H., Phuong, N. V., Dogot, T., Burny, P., Hop, H. T. M., & Lebailly, P. (2022). Agricultural development around protected areas in Vietnam: Agroecology perspective. AGRIS on-line Papers in Economics and Informatics, 14(3), 71–84. https://doi.org/10.7160/aol.2022.140306

Phung, Q., Dao, N., Williams, J., Nguyen, N. T. H., & Tran, Q. A. (2026). Land consolidation and rural aging: Challenges and implications in the Red River Delta, Vietnam. International Journal of Agricultural Sustainability, 24(1), 2646115. https://doi.org/10.1080/14735903.2026.2646115

Sattler, C., Schrader, J., Farkas, V. M., Settele, J., & Franzén, M. (2018). Pesticide diversity in rice growing areas of Northern Vietnam. Paddy and Water Environment, 16(2), 339–352. https://doi.org/10.1007/s10333-018-0637-z

Sattler, C., Gianuca, A. T., Schweiger, O., Franzén, M., & Settele, J. (2020). Pesticides and land cover heterogeneity affect functional group and taxonomic diversity of arthropods in rice agroecosystems. Agriculture, Ecosystems & Environment, 297, 106927. https://doi.org/10.1016/j.agee.2020.106927

Settele, J., Heong, K. L., Kühn, I., Klotz, S., Spangenberg, J. H., Arida, G., Beaurepaire, A., Beck, S., Bergmeier, E., Burkhard, B., Brandl, R., Bustamante, J. V., Butler, A., Cabbigat, J., Le, X. C., Catindig, J. L. A., Ho, V. C., Le, Q. C., Dang, K. B., … Wiemers, M. (2018). Rice ecosystem services in South-east Asia. Paddy and Water Environment, 16(2), 211–224. https://doi.org/10.1007/s10333-018-0656-9

Tamburini, G., Bommarco, R., Wanger, T. C., Kremen, C., van der Heijden, M. G. A., Liebman, M., & Hallin, S. (2020). Agricultural diversification promotes multiple ecosystem services without compromising yield. Science Advances, 6(45), eaba1715. https://doi.org/10.1126/sciadv.aba1715

Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 28 tháng 01 năm 2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=205263&pageid=27160&tagid=6&type=1

Whitfield, A. K. (2017). The role of seagrass meadows, mangrove forests, salt marshes and reed beds as nursery areas and food sources for fishes in estuaries. Reviews in Fish Biology and Fisheries, 27, 75–110. https://doi.org/10.1007/s11160-016-9454-x

Cập nhật

Cùng Nuôi Biển
Tham gia