Limitless customization options & Elementor compatibility let anyone create a beautiful website with Valiance.

Liên hệ

NV 31, Khu đô thị Trung Văn, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội +024-3556-4001 contact@nature.org.vn Mở cửa: 8:00 - 17:30 Thứ Hai - Thứ Sáu
  • Comments Off on Đổi mới hệ quy chiếu trong đánh giá rừng ở Việt Nam

Trong hơn một thế kỷ qua, cách chúng ta nhìn nhận và quản lý rừng ở Việt Nam đã thay đổi qua nhiều tầng ảnh hưởng: từ lâm nghiệp thuộc địa thời Pháp thuộc, tư duy quản lý tài nguyên và sản xuất trong giai đoạn kế hoạch hóa, đến các tiếp cận hiện đại về bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi sinh thái và quản lý cảnh quan sau Đổi mới. Mỗi giai đoạn để lại một hệ khái niệm riêng, từ độ che phủ rừng, trữ lượng gỗ, rừng giàu, rừng nghèo, rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất, đến các khái niệm mới hơn như tính toàn vẹn về hệ sinh thái, kết nối sinh cảnh, OECM và phục hồi sinh thái.

Bài viết này nhìn lại lịch sử hình thành và hạn chế của một số khái niệm quen thuộc trong quản lý rừng ở Việt Nam, qua đó chỉ ra rằng các thước đo truyền thống vẫn cần thiết nhưng không còn đủ cho bảo tồn thiên nhiên. Khi rừng tự nhiên tiếp tục suy giảm về chất lượng, đa dạng sinh học bị tổn thương và các hệ sinh thái đặc thù như rừng khộp, rừng ngập mặn, rừng trên núi đá vôi cần được bảo vệ đúng cách, chính sách lâm nghiệp cần chuyển từ tư duy “đếm rừng” sang tư duy “hiểu rừng”, nhìn nhận rừng như một hệ sinh thái sống, có cấu trúc, chức năng, lịch sử và khả năng phục hồi.

Từ quản lý lâm sản đến tiếp cận hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

Các khái niệm dùng để nói về rừng không bao giờ hoàn toàn trung tính. Chúng phản ánh cách một xã hội nhìn nhận rừng ở một thời điểm nhất định: rừng là nguồn gỗ, là vùng phòng hộ, là không gian sản xuất, là di sản thiên nhiên, là nơi cư trú của loài hoang dã, hay là nền tảng của an ninh sinh thái. Vì vậy, khi bàn luận về những khái niệm đã cũ trong bảo tồn thiên nhiên và sinh thái rừng ở Việt Nam, bên cạnh việc chỉ ra hạn chế, cần hiểu vì sao những khái niệm đó được hình thành, từng hữu dụng, và vì sao đến nay cần được đặt lại trong một hệ quy chiếu mới.

Trong hơn một thế kỷ qua, cách hiểu về rừng ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều dòng tri thức và thể chế khác nhau. Thời kỳ thuộc địa, lâm nghiệp hiện đại được du nhập cùng với bộ máy quản trị rừng của Pháp, đặt nặng điều tra, phân hạng, kiểm soát khai thác, và bảo vệ nguồn tài nguyên phục vụ nhà nước thuộc địa cùng nền kinh tế khai thác. Các nghiên cứu lịch sử về lâm nghiệp thuộc địa ở Đông Dương cho thấy diễn ngôn “bảo vệ rừng” thời kỳ này gắn chặt với mục tiêu kiểm soát tài nguyên, kiểm soát lãnh thổ và tái cấu trúc quan hệ giữa nhà nước thuộc địa với các cộng đồng địa phương sống dựa vào rừng (Thomas, 2009; McElwee, 2016).

Sau năm 1954 ở miền Bắc, rồi sau năm 1975 trên phạm vi cả nước, lâm nghiệp phát triển trong bối cảnh kinh tế kế hoạch, với trọng tâm là sản xuất, cung ứng gỗ, trồng rừng, phân vùng chức năng và tổ chức lực lượng quản lý nhà nước. Nhiều thế hệ cán bộ kỹ thuật và quản lý được đào tạo trong môi trường chuyên ngành hóa cao, chịu ảnh hưởng của mô hình đào tạo và quản lý theo ngành dọc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Trong hoàn cảnh một quốc gia vừa trải qua chiến tranh, cần khôi phục sản xuất, tổ chức lại quản lý đất đai, cung cấp gỗ, trồng rừng và xây dựng lực lượng kỹ thuật, tư duy lâm nghiệp ngành dọc có vai trò rất lớn. Nó giúp chuẩn hóa điều tra, kiểm kê, phân loại trạng thái rừng, xây dựng bản đồ, quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất và hình thành lực lượng cán bộ chuyên môn.

Từ sau Đổi mới, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập mạnh mẽ hơn với các tổ chức quốc tế, các công ước môi trường, sinh thái học hiện đại, bảo tồn đa dạng sinh học, dịch vụ hệ sinh thái, quản lý cảnh quan, phục hồi sinh thái và gần đây là các tiếp cận như OECM, giải pháp dựa vào thiên nhiên và an ninh sinh thái. Cách tiếp cận hệ sinh thái của Công ước Đa dạng sinh học nhấn mạnh quản lý tích hợp đất, nước và sinh vật, đồng thời đặt con người như một phần của hệ sinh thái chứ không phải yếu tố đứng bên ngoài (Convention on Biological Diversity, 2000). Đây là sự chuyển dịch căn bản so với cách nhìn rừng chủ yếu như một đối tượng sản xuất, khai thác hoặc phân hạng hành chính.

Nhìn từ lịch sử đó, nhiều khái niệm lâm nghiệp truyền thống không phải là sai. Chúng từng đóng vai trò quan trọng trong kiểm kê, quy hoạch, quản lý khai thác, bảo vệ đất, phục hồi diện tích rừng và tổ chức ngành lâm nghiệp. Nhưng khi bảo tồn thiên nhiên ngày nay đòi hỏi phải hiểu rừng như một hệ sinh thái sống, nhiều chiếc thước đo cũ dần trở nên không còn phù hợp. Tỷ lệ che phủ không phản ánh đủ chất lượng rừng. Độ tàn che không thể hiện cấu trúc sinh thái. Trữ lượng gỗ không đo đếm được đa dạng sinh học. Cách phân loại rừng thành ba nhóm đặc dụng, phòng hộ và sản xuất không bao quát hết vai trò sinh cảnh và kết nối cảnh quan. Rừng trồng và cây công nghiệp không thể thay thế rừng tự nhiên. Và “rừng nghèo kiệt” không phải lúc nào cũng là rừng vô giá trị.

Một thế kỷ thay đổi trong cách nhìn về rừng

Lâm nghiệp hiện đại ở Việt Nam có gốc rễ từ thời thuộc địa. Những quyết định đầu tiên về quản lý rừng ở Đông Dương được chính quyền Pháp đưa ra từ rất sớm, gắn với nhu cầu cung cấp gỗ, kiểm soát tài nguyên và thiết lập quyền quản trị của nhà nước thuộc địa đối với rừng. Nhiều cán bộ lâm nghiệp ở Đông Dương được đào tạo theo truyền thống lâm nghiệp châu Âu, trong đó rừng được nhìn như một đối tượng có thể đo đếm, phân hạng, khoanh vùng và quản lý theo sản lượng. Các tài liệu về lịch sử lâm nghiệp Đông Dương cho thấy quản lý rừng thuộc địa vừa mang màu sắc “bảo vệ” vừa gắn chặt với khai thác, kiểm soát lao động, kiểm soát quyền tiếp cận tài nguyên của cộng đồng địa phương và tổ chức nền kinh tế thuộc địa (Thomas, 2009; McElwee, 2016).

Từ góc nhìn lịch sử sinh thái học, đây là giai đoạn của tư duy lâm nghiệp khoa học theo nghĩa cổ điển: rừng là một tài nguyên có thể được nhà nước đo đếm, lập bản đồ, phân loại và quản lý để bảo đảm nguồn cung lâu dài. Những khái niệm như trữ lượng, sản lượng, phân hạng rừng, kiểm kê rừng, quy hoạch rừng, rừng cấm khai thác hay rừng được phép khai thác đều rất phù hợp với một thời kỳ mà mối quan tâm chính là kiểm soát tài nguyên gỗ và phòng hộ ở mức cơ bản. Trong cách nhìn này, cây gỗ lớn, thân cây, thể tích gỗ và khả năng khai thác là trung tâm.

Sau thời kỳ thuộc địa và chiến tranh, Việt Nam xây dựng hệ thống lâm nghiệp trong bối cảnh kinh tế kế hoạch và nhu cầu tái thiết đất nước. Trường Đại học Lâm nghiệp được thành lập năm 1964 trên cơ sở tách Khoa Lâm nghiệp và Tổ Cơ giới khai thác lâm nghiệp từ Trường Đại học Nông Lâm, phản ánh nhu cầu đào tạo nhân lực chuyên ngành cho lĩnh vực lâm nghiệp (Trường Đại học Lâm nghiệp, n.d.). Các tài liệu về giáo dục lâm nghiệp Việt Nam cũng cho thấy hệ thống đào tạo lâm nghiệp từng được tổ chức theo cấu trúc chuyên ngành riêng biệt, với các trường nghề, trường trung cấp, đại học chuyên ngành và các cơ sở nông lâm khác nhau (Food and Agriculture Organization, 2001).

Ảnh hưởng này không chỉ thể hiện trong chương trình đào tạo mà còn trong cách tổ chức tri thức và quản lý ngành. Rừng được chia thành trạng thái, loại rừng, cấp trữ lượng, mục tiêu sử dụng và đơn vị quản lý; cán bộ được đào tạo theo chuyên môn tương đối chuyên biệt; báo cáo thường ưu tiên các chỉ tiêu có thể đo đếm, lập bản đồ và tổng hợp thống kê. Đây là nền tảng quan trọng đối với một quốc gia cần quản lý hàng chục triệu héc-ta đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, nó cũng để lại một di sản khái niệm nặng về tài nguyên rừng, sản lượng, diện tích, trạng thái lâm phần và mục đích sử dụng đất.

Trong khi đó, trên thế giới, sinh thái học và bảo tồn thiên nhiên đã trải qua nhiều chuyển biến sâu sắc. Từ cách nhìn hệ sinh thái như một hệ thống tương đối ổn định, khoa học sinh thái chuyển dần sang nhấn mạnh động thái, nhiễu động, phục hồi, tính không chắc chắn, tương tác đa loài, kết nối cảnh quan và khả năng chống chịu. Từ thập niên 1980, bảo tồn đa dạng sinh học nổi lên như một ngành khoa học liên ngành nhằm xử lý các vấn đề của loài, quần xã và hệ sinh thái bị tác động bởi con người. Bài viết kinh điển của Soulé (1985) gọi bảo tồn đa dạng sinh học là một ngành khoa học khủng hoảng, phải hành động trong điều kiện thiếu thông tin hoàn hảo.

Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, cách tiếp cận hệ sinh thái của Công ước Đa dạng sinh học nhấn mạnh quản lý tích hợp đất, nước và sinh vật, đồng thời đặt con người như một phần của hệ sinh thái (Convention on Biological Diversity, 2000). Cùng với đó, các khái niệm như phục hồi hệ sinh thái, tính toàn vẹn sinh thái, kết nối sinh cảnh, dịch vụ hệ sinh thái, OECM, quản lý thích ứng và giải pháp dựa vào thiên nhiên ngày càng trở thành ngôn ngữ chính sách phổ biến. Chúng mở rộng cách nhìn từ “rừng còn bao nhiêu” sang “rừng còn hoạt động như một hệ sinh thái hay không”.

Từ sau Đổi mới, Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ với các dòng tri thức này thông qua các công ước quốc tế, tổ chức bảo tồn, chương trình phát triển, tổ chức nghiên cứu quốc tế và mạng lưới chuyên gia. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu gia tăng diện tích hệ sinh thái tự nhiên được bảo vệ, phục hồi và bảo đảm tính toàn vẹn, kết nối; đây là ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ lâm nghiệp truyền thống chỉ tập trung vào diện tích, sản lượng hoặc độ che phủ (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Chính sự giao thoa giữa các cách tiếp cận này đã tạo ra tình trạng hiện nay: trong văn bản chính sách, Việt Nam đã tiếp nhận nhiều khái niệm hiện đại như đa dạng sinh học, hệ sinh thái tự nhiên, phục hồi sinh thái, dịch vụ môi trường rừng, tính toàn vẹn, kết nối và sử dụng bền vững. Nhưng trong thực hành quản lý và truyền thông, các chỉ tiêu cũ như độ che phủ, diện tích, trữ lượng, rừng giàu, rừng nghèo và ba loại rừng vẫn giữ vai trò chi phối. Đây là khoảng cách cần được thu hẹp nếu Việt Nam muốn chuyển từ quản lý rừng theo nghĩa tài nguyên sang bảo tồn rừng theo nghĩa hệ sinh thái.

Độ che phủ rừng: chỉ tiêu cần thiết nhưng không đủ

Tỷ lệ che phủ rừng là một chỉ tiêu quan trọng trong quản lý nhà nước. Nó giúp theo dõi biến động rừng trên phạm vi quốc gia, vùng và địa phương; hỗ trợ đánh giá các chương trình phát triển lâm nghiệp; và tạo ra một con số dễ truyền đạt với công chúng. Tuy nhiên, chính vì sự đơn giản này, tỷ lệ che phủ rừng cũng có thể tạo ra cảm giác an toàn giả nếu được sử dụng như bằng chứng chính về sức khỏe của rừng.

Theo Quyết định 1106/QĐ-BNNMT, đến cuối năm 2025, Việt Nam có 14.971.553 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 10.079.366 ha và rừng trồng là 4.892.187 ha; diện tích rừng đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ là 13.924.835 ha và tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc là 42,03% (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Năm 2024, tổng diện tích rừng là 14.874.302 ha, gồm 10.133.952 ha rừng tự nhiên và 4.740.350 ha rừng trồng; tỷ lệ che phủ rừng cũng là 42,03% (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Như vậy, từ năm 2024 đến 2025, tổng diện tích rừng tăng khoảng 97.251 ha, nhưng rừng tự nhiên giảm khoảng 54.586 ha, trong khi rừng trồng tăng khoảng 151.837 ha. Nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ che phủ ổn định, sự dịch chuyển giữa rừng tự nhiên và rừng trồng có thể bị che khuất.

Về sinh thái, một héc-ta rừng tự nhiên với nhiều tầng tán, cây gỗ lớn, cây tái sinh, thảm mục, nấm, côn trùng, chim thú và dòng suối dưới tán rừng không thể tương đương với một héc-ta rừng trồng đơn loài. Cả hai đều có thể tạo màu xanh trên bản đồ, nhưng giá trị đối với đa dạng sinh học, điều tiết nước, bảo vệ đất, duy trì vi khí hậu, lưu giữ nguồn gen, tạo sinh cảnh và phục hồi tự nhiên là rất khác nhau.

Khi chính sách và truyền thông quá tập trung vào chỉ tiêu che phủ, các vấn đề như chất lượng rừng, công bằng xã hội và tính bền vững sinh thái dễ bị xem nhẹ (Dang, 2022). Meyfroidt & Lambin (2009) lưu ý rằng những câu chuyện về gia tăng diện tích rừng cần được diễn giải thận trọng, vì tăng độ che phủ trong nước có thể đi kèm với dịch chuyển áp lực phá rừng ra bên ngoài hoặc thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng. Nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế cho thấy quá trình phục hồi che phủ rừng ở địa phương này chủ yếu gắn với mở rộng rừng trồng keo, và không nhất thiết đồng nghĩa với quản lý môi trường bền vững dài hạn (Cochard et al., 2023).

Báo cáo của World Bank (2019) chỉ ra rằng khoảng hai phần ba diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam đang ở tình trạng nghèo hoặc phục hồi, trong khi rừng giàu và có tán kín chỉ chiếm khoảng 5% tổng diện tích rừng tự nhiên. Đây là một chỉ báo quan trọng: một quốc gia có thể duy trì tỷ lệ che phủ rừng tương đối cao, nhưng vẫn đối mặt với suy giảm chất lượng rừng tự nhiên.

Vì vậy, tỷ lệ che phủ rừng cần được giữ như một chỉ tiêu quản lý, nhưng không nên được sử dụng như chỉ báo đại diện cho chất lượng sinh thái. Báo cáo hiện trạng rừng cần trình bày rõ ràng hơn biến động giữa rừng tự nhiên và rừng trồng, giữa các trạng thái rừng tự nhiên, giữa rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng phục hồi và các kiểu rừng đặc thù. Quan trọng hơn, cần bổ sung các chỉ số về thành phần loài, cấu trúc rừng, khả năng tái sinh, mức độ phân mảnh, tình trạng động vật hoang dã, chất lượng đất và nước, cũng như áp lực từ săn bắt, khai thác và cháy rừng.

Độ tàn che và diện tích liền vùng: ngưỡng kỹ thuật không phải thước đo sinh thái

Luật Lâm nghiệp định nghĩa rừng là một hệ sinh thái bao gồm thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Tuy nhiên, trong tiêu chí xác định, để một diện tích được coi là rừng cần dựa vào các ngưỡng kỹ thuật như diện tích liền vùng, độ tàn che và chiều cao cây rừng theo điều kiện lập địa. Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định rừng tự nhiên và rừng trồng cần đáp ứng các tiêu chí như độ tàn che từ 0,1 trở lên, diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên và chiều cao trung bình của cây rừng đạt ngưỡng nhất định theo điều kiện lập địa (Chính phủ, 2018; Quốc hội, 2017).

Những tiêu chí này cần thiết để kiểm kê, lập bản đồ, giao rừng, cho thuê rừng và xử lý vi phạm. Một hệ thống quản lý rừng trên phạm vi quốc gia không thể vận hành nếu mỗi địa phương hiểu rừng theo một cách khác nhau. Nhưng ngưỡng nhận diện kỹ thuật không nên bị đồng nhất với tiêu chí đánh giá sức khỏe hệ sinh thái.

Độ tàn che 0,1 cho biết có tán cây che phủ ở mức tối thiểu. Nhưng nó không cho biết rừng có bao nhiêu loài bản địa, có cây tái sinh hay không, có cây già, cây chết, thảm mục, nấm, côn trùng, chim thú và vi sinh vật đất hay không. Diện tích liền vùng 0,3 ha giúp phân biệt rừng với cây phân tán trên bản đồ, nhưng trong sinh thái cảnh quan, các mảng rừng nhỏ vẫn có thể đóng vai trò rất quan trọng. Một khoảnh rừng nhỏ ven suối, một khu rừng tín ngưỡng của cộng đồng, một mảng cây bản địa còn sót lại giữa vùng nông nghiệp hay một dải cây tự nhiên trên núi đá vôi có thể là nơi trú ẩn, nguồn hạt giống, điểm dừng của chim, hành lang di chuyển của thú nhỏ hoặc “ốc đảo” cho côn trùng và sinh vật đất.

Trong bối cảnh rừng Việt Nam bị chia cắt bởi nông nghiệp, hạ tầng, thủy điện, đường giao thông, khu dân cư và khai thác tài nguyên, giá trị của các mảng sinh cảnh nhỏ càng cần được nhìn bằng tư duy kết nối. Một mảng rừng nhỏ có thể không đủ để duy trì toàn bộ quần thể loài, nhưng có thể giúp giảm khoảng cách giữa các sinh cảnh, hỗ trợ phát tán hạt, duy trì dòng gen hoặc giảm tác động rìa đối với các khu rừng lớn hơn. Nếu chỉ nhìn bằng diện tích và tán che, những giá trị này dễ bị bỏ qua.

Đáng chú ý, ngay trong khung kỹ thuật lâm nghiệp hiện hành, Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT đã có nội dung điều tra vượt ra ngoài diện tích và tán che, bao gồm cấu trúc rừng, tái sinh rừng, đa dạng hệ sinh thái rừng, đa dạng thực vật, động vật có xương sống, côn trùng rừng, sinh khối và trữ lượng các-bon (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018). Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở việc thiếu công cụ kỹ thuật, mà là do các chỉ số về chất lượng sinh thái chưa được lồng ghép đầy đủ vào báo cáo, đánh giá chính sách và thông điệp truyền thông.

Một hệ thống đánh giá rừng phù hợp hơn cần phân biệt ba cấp độ. Thứ nhất là tiêu chí pháp lý để xác định một diện tích có phải là rừng hay không. Thứ hai là chỉ tiêu kiểm kê để mô tả trạng thái rừng. Thứ ba là đánh giá sinh thái để xác định chất lượng, chức năng và giá trị bảo tồn của khu rừng. Hai cấp độ đầu cần thiết cho quản lý hành chính, nhưng cấp độ thứ ba mới là nền tảng cho bảo tồn thiên nhiên.

Trữ lượng gỗ và phân loại rừng giàu, rừng nghèo: di sản của tư duy khai thác tài nguyên

Trong lịch sử lâm nghiệp, trữ lượng gỗ là một trong những chỉ tiêu cơ bản nhất. Đối với một ngành được tổ chức lâu dài quanh mục tiêu khai thác, cung ứng và quản lý tài nguyên gỗ, việc biết rừng có bao nhiêu mét khối gỗ là điều hiển nhiên. Ở Việt Nam, các văn bản điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng vẫn sử dụng trữ lượng cây đứng để phân loại nhiều trạng thái rừng tự nhiên. Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT phân chia rừng tự nhiên theo trữ lượng M tính bằng m³/ha, với các nhóm như rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa có trữ lượng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018).

Trữ lượng gỗ là chỉ tiêu cần thiết. Nó phục vụ điều tra tài nguyên rừng, tính toán sinh khối, các-bon, thiệt hại khi rừng bị khai thác hoặc chuyển đổi, và đánh giá một phần cấu trúc lâm phần. Nhưng trong bảo tồn thiên nhiên, trữ lượng chỉ là một lát cắt. Nó đo được phần thân gỗ, nhưng không đo được toàn bộ sự sống của rừng.

Một khu rừng trồng đơn loài đến tuổi khai thác có thể có trữ lượng gỗ đáng kể, nhưng cấu trúc sinh thái lại đơn giản: ít tầng tán, ít cây chết, ít hốc cây, ít dây leo, ít thảm mục và nghèo sinh cảnh cho nhiều nhóm loài. Ngược lại, một khu rừng tự nhiên thứ sinh đang phục hồi có thể nghèo gỗ lớn nhưng vẫn còn cây bản địa, cây tái sinh, nấm, vi sinh vật đất, côn trùng, chim, thú nhỏ, nguồn hạt giống và khả năng phục hồi dài hạn. Nếu chỉ dùng mét khối gỗ để gọi rừng là “giàu” hay “nghèo”, chính sách có thể đánh giá thấp các giá trị sinh thái không biểu hiện trực tiếp bằng gỗ.

Dựa trên 25.950 bộ dữ liệu từ 264 nghiên cứu ở 53 quốc gia, Hua và cộng sự (2022) cho thấy phục hồi rừng bản địa thường mang lại lợi ích tốt hơn về đa dạng sinh học, lưu trữ các-bon trên mặt đất, cung cấp nước và kiểm soát xói mòn so với các rừng trồng đơn giản về thành phần loài, dù rừng trồng có lợi thế về sản xuất gỗ. Điều này cho thấy mục tiêu sản xuất gỗ và mục tiêu phục hồi hệ sinh thái có thể khác nhau, thậm chí có đánh đổi, và không nên bị gom vào cùng một chỉ số trữ lượng.

Cách sử dụng ngôn ngữ cũng cần được xem xét lại. Các thuật ngữ “rừng giàu” và “rừng nghèo” có thể hữu ích trong chuyên môn điều tra rừng, nhưng khi đi vào chính sách phát triển và truyền thông công chúng, chúng dễ tạo ra ấn tượng rằng giá trị của rừng nằm chủ yếu ở lượng gỗ. Nhìn từ góc độ bảo tồn thiên nhiên, một khu rừng giàu là khu rừng còn nhiều loài sống cùng nhau, còn cấu trúc tự nhiên, còn khả năng tái sinh, còn đất và nước khỏe, còn kết nối với cảnh quan xung quanh và còn là nơi cư trú an toàn cho các loài hoang dã. “Giàu gỗ” và “giàu sự sống” không phải lúc nào cũng có nghĩa như nhau.

Rừng nghèo kiệt: cần phục hồi, không phải xóa bỏ

Khái niệm “rừng nghèo kiệt” là một trong những ví dụ điển hình nhất cho thấy một thuật ngữ kỹ thuật có thể dẫn tới cách hiểu và định hướng chính sách khác nhau. Trong một số giai đoạn, rừng tự nhiên nghèo kiệt được xử lý theo hướng cải tạo. Thông tư 23/2013/TT-BNNPTNT định nghĩa rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng có trữ lượng rất thấp, chất lượng kém; khả năng tăng trưởng và năng suất thấp, nếu để rừng phục hồi tự nhiên sẽ không đáp ứng được yêu cầu kinh tế và phòng hộ. Văn bản này cũng quy định cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là việc chuyển đổi rừng nghèo kiệt không còn khả năng phục hồi có hiệu quả nếu áp dụng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên bằng trồng lại cây rừng để khôi phục thành rừng có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao hơn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013).

Cách tiếp cận này phản ánh bối cảnh chính sách khi năng suất, hiệu quả kinh tế và chức năng phòng hộ được đặt ở vị trí trung tâm. Nhưng từ góc nhìn bảo tồn thiên nhiên, “nghèo kiệt” không nên được hiểu như giấy khai tử của rừng. Rừng nghèo kiệt đúng là rừng đã bị tác động và cần phục hồi, nhưng suy thoái không có nghĩa là đã chết. Một khu rừng ít cây lớn vẫn có thể còn đất rừng, thảm mục, hệ rễ, nấm, vi sinh vật, hạt giống, cây tái sinh, cây bản địa, chim, côn trùng và thú nhỏ. Nó có thể là vùng đệm cho lõi rừng tốt hơn, là hành lang nối các mảng rừng, là nơi phát tán hạt, là khu vực giữ nước, hoặc là nền sinh thái để phục hồi rừng tự nhiên.

Nghiên cứu về phục hồi rừng nhiệt đới gần đây cũng cho thấy cần thận trọng với giả định rằng mọi khu rừng suy thoái đều phải được trồng lại từ đầu. Williams và cộng sự (2024), ước tính khoảng 215 triệu ha rừng ở các vùng nhiệt đới có tiềm năng tái sinh rừng tự nhiên, với khả năng hấp thụ 23,4 tỷ tấn các-bon trên mặt đất trong 30 năm. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng trồng cây là phương pháp phổ biến nhưng tốn kém, và trong những điều kiện phù hợp, tái sinh tự nhiên có thể tạo ra hệ sinh thái rừng đa dạng hơn với chi phí thấp hơn.

Tại Việt Nam, rừng khộp ở Tây Nguyên là một trường hợp đáng lưu ý. Đây là kiểu rừng lá rộng rụng lá theo mùa khô, với các loài cây họ Dầu chiếm ưu thế. Rừng khôp có tán mở, mùa khô rụng lá, ánh sáng lọt xuống đất nhiều, có các khoảng trống và lớp cỏ phát triển theo mùa. Nếu áp dụng hình dung về rừng thường xanh ẩm, rậm rạp, nhiều tầng tán lên rừng khộp, kiểu rừng này rất dễ bị coi là nghèo, thưa, ít giá trị. Nhưng về mặt sinh thái, rừng khộp là hệ sinh thái đặc thù, thích nghi với điều kiện khô hạn, cháy tự nhiên hoặc bán tự nhiên, và có vai trò sinh cảnh quan trọng cho nhiều loài động vật lớn.

Theo Trần Quang Bảo và cộng sự (2022), diện tích rừng khộp Tây Nguyên đã giảm từ 446.871,16 ha năm 2010 xuống còn 355.223,52 ha năm 2015 và chỉ còn 305.651,69 ha năm 2020. Các nguyên nhân chính bao gồm chuyển và xâm lấn rừng và đất rừng khộp sang sản xuất nông nghiệp; chuyển rừng khộp nghèo sang trồng rừng nguyên liệu và cao su; và ảnh hưởng của khai thác đến suy thoái. Nghiên cứu cũng khẳng định rừng khộp là hệ sinh thái độc đáo và hiếm có, cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển phù hợp với đặc điểm sinh thái riêng.

Từ thực tiễn này có thể rút ra bài học quan trọng: không nên áp một hình ảnh chuẩn về rừng “cao, rậm rạp, kín tán” để đánh giá mọi hệ sinh thái rừng. Rừng khộp, rừng tràm, rừng ngập mặn, rừng trên núi đá vôi, rừng trên đất cát ven biển hay rừng thường xanh núi thấp đều có cấu trúc, động thái và chức năng sinh thái khác nhau. Một hệ thống đánh giá hiện đại cần phân biệt được suy thoái thật sự với đặc điểm tự nhiên của từng kiểu rừng. Nếu không, những hệ sinh thái đặc thù nhưng có vẻ “nghèo” về gỗ có thể bị đánh giá thấp và bị chuyển đổi.

Ba loại rừng: cần cho quản lý nhưng chưa đủ cho bảo tồn

Luật Lâm nghiệp phân rừng thành ba loại theo mục đích sử dụng chủ yếu: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích, cảnh quan và du lịch sinh thái. Rừng phòng hộ có chức năng bảo vệ nguồn nước, đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, sa mạc hóa, hạn chế thiên tai và điều hòa khí hậu. Rừng sản xuất chủ yếu phục vụ sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, cung cấp lâm sản và dịch vụ môi trường rừng. Cách phân loại này là cần thiết để xác định mục tiêu quản lý, chế độ sử dụng và trách nhiệm đầu tư (Quốc hội, 2017).

Tuy nhiên, đây là phân loại theo mục đích quản lý, không đủ để đánh giá toàn diện về giá trị sinh thái. Một khu rừng phòng hộ đầu nguồn có thể đồng thời là sinh cảnh quan trọng của loài nguy cấp. Một diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên có thể là hành lang kết nối giữa hai khu bảo tồn. Một khu rừng tín ngưỡng, rừng cộng đồng hoặc mảng rừng nhỏ ven suối có thể bảo vệ nguồn nước, giữ cây bản địa, duy trì nguồn hạt giống và mang giá trị văn hóa sinh thái. Ngược lại, một khu rừng đặc dụng trên giấy không tự động bảo đảm hiệu quả bảo tồn nếu thiếu ngân sách, nhân lực, dữ liệu khoa học, quản trị tốt và kết nối sinh thái.

Các biện pháp bảo tồn khu vực hiệu quả khác (OECM) giúp mở rộng cách nhìn này. OECM là các khu vực ngoài hệ thống khu bảo tồn chính thức nhưng vẫn đạt được kết quả bảo tồn đa dạng sinh học lâu dài và hiệu quả. Nghiên cứu thí điểm tại Quảng Ninh đã xác định 116 khu vực OECM tiềm năng, bao gồm 83 rừng phòng hộ, 20 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, 10 vùng đất ngập nước cửa sông, hai vùng chim quan trọng và một vườn cò địa phương (GIZ, 2024). Một báo cáo phân tích quản lý OECM ở Việt Nam cũng gợi ý rằng các hệ sinh thái rừng có tiềm năng OECM có thể bao gồm rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên, vùng đệm của khu bảo tồn và một số loại rừng đặc dụng nằm ngoài hệ thống khu bảo tồn (GIZ, 2023).

Việt Nam cần chuyển từ tư duy “rừng này thuộc loại nào?” sang cách đặt vấn đề rộng hơn: “rừng này đang làm gì cho thiên nhiên và cho con người?”. Nó có giữ nước không? Có bảo vệ đất không? Có là nơi trú ẩn của loài nguy cấp không? Có kết nối các mảng sinh cảnh không? Có phục hồi tự nhiên không? Có được cộng đồng địa phương bảo vệ không? Có giảm rủi ro thiên tai không? Có đóng góp vào mục tiêu đa dạng sinh học quốc gia không?

Ba loại rừng vẫn cần thiết cho quản lý hành chính. Nhưng bảo tồn thiên nhiên cần thêm các lớp đánh giá về giá trị đa dạng sinh học, tính đại diện hệ sinh thái, mức độ tự nhiên, tính kết nối, khả năng phục hồi, nguy cơ suy thoái, vai trò của cộng đồng và hiệu quả quản trị. Nếu không, chính sách dễ bỏ qua những khu rừng ngoài hệ thống bảo tồn chính thức nhưng lại có vai trò sinh thái quan trọng trong một cảnh quan đang bị chia cắt.

Rừng trồng và cây công nghiệp: giá trị kinh tế không đồng nghĩa với giá trị thay thế sinh thái

Trong hệ thống lâm nghiệp Việt Nam, nhiều loài cây có giá trị kinh tế được đưa vào danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính, bao gồm các loài keo, bạch đàn, quế, hồi, thông, lát hoa, lim xanh và nhiều loài khác (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2021). Việc xác định danh mục này giúp ích trong việc quản lý giống, nguồn giống, trồng rừng, sản xuất lâm nghiệp và phát triển sinh kế. Không nên nhìn nhận rừng trồng sản xuất một cách cực đoan. Rừng trồng có thể cung cấp gỗ, nguyên liệu, thu nhập cho hộ gia đình, tạo việc làm và giảm áp lực khai thác lên rừng tự nhiên nếu được quy hoạch và quản lý đúng cách.

Tuy nhiên, rừng trồng sản xuất và cây công nghiệp không thể được xem là tương đương với rừng tự nhiên. Một diện tích rừng trồng đơn loài thường có cây cùng tuổi, cấu trúc đơn giản, ít tầng tán, ít cây chết, ít hốc cây, ít dây leo, ít thảm mục và chu kỳ khai thác ngắn. Nó có thể có sinh khối, gỗ và tán che, nhưng thường thiếu các quan hệ sinh thái phức tạp được hình thành qua thời gian dài trong rừng tự nhiên. Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa trồng cây, trồng rừng sản xuất và phục hồi hệ sinh thái rừng tự nhiên.

Nghiên cứu về rừng trồng ở miền Trung Việt Nam cho thấy rừng trồng có thể cung cấp một số dịch vụ hệ sinh thái như sản xuất gỗ, lưu trữ các-bon, giữ trầm tích và một mức độ sinh cảnh nhất định. Tuy nhiên, các kết quả này cần được đặt trong bối cảnh biến động cảnh quan rộng hơn, bởi suy giảm rừng tự nhiên có thể làm mất đi những giá trị hệ sinh thái mà rừng trồng khó bù đắp đầy đủ (Paudyal và công sự, 2020). Nói cách khác, rừng trồng có vai trò riêng, nhưng không thể được sử dụng để làm mờ đi sự suy giảm của rừng tự nhiên.

Báo cáo về cao su của Forest Trends và Tropenbos International cho biết khoảng 79% diện tích cao su được mở rộng tại năm tỉnh Tây Nguyên được chuyển đổi từ rừng tự nhiên, trong đó không phải tất cả đều là rừng suy thoái. Báo cáo cũng chỉ ra rằng có khoảng 400.000 m³ gỗ đã được khai thác từ gần 700.000 ha rừng tự nhiên do địa phương giao cho hơn 200 dự án cao su trong giai đoạn 2007–2012 (Tô và cộng sự 2014). Đây không chỉ là chuyện thay cây này bằng cây khác, mà là chuyển một hệ sinh thái tự nhiên thành một hệ thống sản xuất đơn giản hơn nhiều.

Từ góc nhìn bảo tồn thiên nhiên, mất rừng tự nhiên không chỉ là mất cây gỗ. Đó còn là mất sinh cảnh của loài, mất cấu trúc tầng tán, mất nguồn hạt giống, mất đất rừng sống, mất các dòng chảy sinh thái, mất khả năng tự tái sinh và mất ký ức sinh thái của cảnh quan. Một vườn cao su không thể thay thế rừng khộp. Một đồi keo không thể thay thế rừng thường xanh bản địa. Một nương quế không thể thay thế hệ sinh thái rừng tự nhiên nhiều loài. Mỗi dạng cây trồng có giá trị kinh tế riêng, nhưng không nên được dùng để thay thế cho bảo tồn rừng tự nhiên.

Những khái niệm cần được xem xét lại

Từ góc nhìn lịch sử sinh thái học, các khái niệm được đề cập ở trên không nên bị loại bỏ một cách đơn giản. Chúng là di sản của các giai đoạn quản lý rừng khác nhau và vẫn có chức năng nhất định. Nhưng chúng cần được đặt lại trong một khung đánh giá rộng hơn.

Thứ nhất, tỷ lệ che phủ rừng cần được hiểu là chỉ tiêu thống kê về diện tích có tán cây, không phải chỉ số đại diện cho sức khỏe rừng. Mỗi lần công bố tỷ lệ che phủ cần đi kèm thông tin về rừng tự nhiên, rừng trồng, trạng thái rừng tự nhiên, chất lượng sinh thái, mức độ chia cắt và các hệ sinh thái rừng đặc thù.

Thứ hai, độ tàn che, diện tích liền vùng và chiều cao cây cần được xem là ngưỡng nhận diện kỹ thuật. Những chỉ tiêu này không đủ để đánh giá cấu trúc rừng, chức năng sinh thái và giá trị bảo tồn. Một mảng rừng nhỏ, thưa hoặc thấp vẫn có thể có vai trò sinh thái quan trọng nếu nó là sinh cảnh, hành lang, nguồn hạt giống hoặc nơi trú ẩn của loài.

Thứ ba, trữ lượng gỗ cần được giữ trong điều tra tài nguyên, sinh khối và các-bon, nhưng không nên là thước đo chính về giá trị rừng. Rừng giàu gỗ không đồng nghĩa với giàu đa dạng sinh học; rừng nghèo gỗ không đồng nghĩa với nghèo sự sống.

Thứ tư, khái niệm rừng nghèo kiệt cần được sử dụng một cách thận trọng. Nhiều diện tích rừng suy thoái vẫn còn tiềm năng phục hồi. Vì vậy, câu hỏi chính sách không nên chỉ dừng ở rừng này còn bao nhiêu gỗ, mà cần xem xét rừng này còn gì để phục hồi: đất rừng, cây tái sinh, loài bản địa, nguồn hạt giống, kết nối sinh cảnh và cộng đồng bảo vệ rừng.

Thứ năm, ba loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất cần được bổ sung bằng các lớp đánh giá sinh thái. Rừng ngoài hệ thống đặc dụng vẫn có thể có giá trị bảo tồn cao. Các cơ chế như OECM, hành lang sinh thái, rừng cộng đồng, rừng tín ngưỡng và phục hồi cảnh quan cần được xem là một phần của chính sách bảo tồn hiện đại.

Thứ sáu, rừng trồng và cây công nghiệp cần được đánh giá đúng vai trò kinh tế, nhưng không nên được xem là sự thay thế sinh thái cho rừng tự nhiên. Báo cáo về tăng diện tích rừng trồng phải được tách bạch với bảo vệ rừng tự nhiên và phục hồi hệ sinh thái rừng.

Khuyến nghị về sử dụng khái niệm và hệ quy chiếu sinh thái trong chính sách

Một trong những yêu cầu quan trọng trong giai đoạn tới không chỉ là bổ sung chỉ tiêu, mà còn đổi mới cách sử dụng khái niệm. Trong chính sách công, khái niệm không chỉ là ngôn ngữ mô tả. Khái niệm định hình cách đo đếm, phân bổ nguồn lực, xác định ưu tiên và đánh giá thành công hay thất bại. Vì vậy, nếu tiếp tục sử dụng các khái niệm cũ mà không đặt chúng trong hệ quy chiếu sinh thái hiện đại, chính sách bảo tồn rừng có thể bị lệch trọng tâm ngay từ khâu đánh giá vấn đề.

Trước hết, cần phân biệt rõ ba nhóm khái niệm: khái niệm pháp lý, khái niệm thống kê và khái niệm sinh thái. Khái niệm pháp lý giúp xác định quyền, trách nhiệm và chế độ quản lý. Khái niệm thống kê giúp đo đếm, lập bản đồ và theo dõi biến động. Khái niệm sinh thái giúp đánh giá chất lượng, chức năng, khả năng chống chịu và giá trị bảo tồn của hệ sinh thái. Một diện tích có thể đáp ứng tiêu chí pháp lý để được ghi nhận là rừng, nhưng vẫn cần đánh giá thêm về chất lượng sinh thái. Một diện tích có thể được xếp là rừng sản xuất, nhưng vẫn có thể có vai trò sinh cảnh quan trọng. Một khu rừng có thể có trữ lượng thấp, nhưng vẫn có tiềm năng phục hồi cao. Chính sách cần tránh dùng một loại khái niệm để thay thế cho tất cả các loại còn lại.

Thứ hai, các báo cáo hiện trạng rừng nên chuyển từ mô hình báo cáo “diện tích và tỷ lệ che phủ” sang mô hình báo cáo “diện tích, chất lượng và chức năng”. Tối thiểu, báo cáo công khai cần tách bạch rừng tự nhiên và rừng trồng; nêu rõ biến động của rừng tự nhiên theo trạng thái; phân biệt giữa rừng trồng sản xuất với phục hồi rừng tự nhiên; và bổ sung thông tin về các kiểu hệ sinh thái rừng đặc thù như rừng khộp, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng trên núi đá vôi và rừng trên đất cát ven biển. Việc công bố một tỷ lệ che phủ chung là chưa đủ để phản ánh tình trạng bảo tồn thiên nhiên.

Thứ ba, cần đưa các chỉ số sinh thái cốt lõi vào hệ thống theo dõi rừng. Các chỉ số này có thể bao gồm tỷ lệ loài cây bản địa, mức độ đa dạng loài, cấu trúc tầng tán, mật độ cây tái sinh, sự hiện diện của cây già và cây chết, thảm mục, tình trạng đất và nước, mức độ phân mảnh, kết nối sinh cảnh, dấu hiệu của động vật hoang dã, áp lực bẫy bắt, cháy rừng, khai thác và xâm lấn. Không nhất thiết phải đo lường tất cả các chỉ số hằng năm hoặc ở mọi nơi, nhưng cần có bộ chỉ số tối thiểu cho các khu vực ưu tiên bảo tồn, rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng cộng đồng và các hệ sinh thái đặc thù.

Thứ tư, cần sử dụng khái niệm “chất lượng rừng” theo nghĩa sinh thái rộng hơn. Chất lượng rừng không nên chỉ được hiểu là trữ lượng, mật độ cây hoặc khả năng cung cấp gỗ. Chất lượng rừng cần bao gồm tính tự nhiên, cấu trúc, thành phần loài, chức năng sinh thái, khả năng tái sinh, mức độ an toàn đối với loài hoang dã và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Với cách hiểu này, rừng tự nhiên thứ sinh, rừng phục hồi và rừng nghèo gỗ vẫn có thể là đối tượng ưu tiên bảo tồn nếu còn tiềm năng phục hồi và vai trò kết nối sinh cảnh.

Thứ năm, cần chuẩn hóa cách truyền thông về rừng trồng và cây công nghiệp. Các báo cáo và thông điệp công khai không nên dùng “trồng cây”, “trồng rừng”, “phục hồi rừng” và “bảo tồn rừng” như những khái niệm thay thế cho nhau. Trồng rừng sản xuất có thể là một hoạt động kinh tế lâm nghiệp. Trồng cây phân tán có thể góp phần tạo cảnh quan và sinh kế. Phục hồi rừng tự nhiên là quá trình khôi phục cấu trúc, thành phần loài và chức năng sinh thái. Bảo tồn rừng tự nhiên là bảo vệ một hệ sinh thái đang tồn tại và các quá trình sống diễn ra bên trong nó. Nếu bốn khái niệm này bị hòa lẫn, chính sách rất dễ đánh đồng thành tích trồng cây với kết quả bảo tồn thiên nhiên.

Thứ sáu, cần thay đổi cách đánh giá rừng nghèo và rừng suy thoái. Với những diện tích rừng đã bị suy thoái, điều cần quan tâm trước hết không phải là khả năng khai thác hay chuyển đổi, mà là những giá trị sinh thái còn lại và cơ hội phục hồi của khu rừng đó. Đánh giá rừng suy thoái cần bao gồm nguồn hạt giống, cây mẹ, cây tái sinh, loài bản địa, tình trạng đất, nguồn nước, áp lực từ cháy rừng, chăn thả, khai thác, săn bắt và múc độ kết nối với các mảng rừng xung quanh. Chỉ khi đánh giá này cho thấy khả năng phục hồi tự nhiên rất thấp và không còn giá trị sinh thái đáng kể, mới nên cân nhắc các can thiệp trồng mới quy mô lớn. Ngay cả trong trường hợp đó, việc lựa chọn loài, mật độ và mô hình trồng cũng cần phục vụ mục tiêu sinh thái, không chỉ mục tiêu sản lượng.

Thứ bảy, cần áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái trong quy hoạch và đầu tư công. Rừng không nên được quản lý như các ô đất tách biệt, mà như một phần của cảnh quan gồm lưu vực, hành lang sinh thái, vùng đệm, khu dân cư, đất nông nghiệp, đất sản xuất và các hệ sinh thái liên quan. Cách tiếp cận hệ sinh thái của Công ước về Đa dạng Sinh học (2000) nhấn mạnh quản lý tích hợp đất, nước và sinh vật, quản lý theo quy mô phù hợp, thừa nhận tính không chắc chắn và đặt con người trong hệ sinh thái. Điều này đặc biệt phù hợp với Việt Nam, nơi nhiều khu rừng tự nhiên còn lại nằm trong cảnh quan có cộng đồng sinh sống, sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên và áp lực phát triển hạ tầng ngày càng gia tăng.

Thứ tám, cần sử dụng OECM và các công cụ bảo tồn ngoài khu bảo tồn chính thức như một phần của hệ quy chiếu mới. Rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng cộng đồng, rừng tín ngưỡng, vùng đệm, hành lang sinh thái, vùng đất ngập nước và khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản có thể đóng góp thực chất cho bảo tồn nếu được quản trị phù hợp. Việc nhận diện các khu vực này không nên chỉ để tăng diện tích bảo tồn trên giấy, mà để thiết kế cơ chế hỗ trợ, giám sát và tài chính phù hợp cho các kết quả bảo tồn dài hạn.

Thứ chín, cần gắn hệ quy chiếu sinh thái với ngân sách và trách nhiệm thực thi. Nếu chính sách chỉ bổ sung thuật ngữ trong khi ngân sách vẫn phân bổ chủ yếu theo diện tích, trữ lượng hoặc chỉ tiêu hành chính, thì thay đổi sẽ không đi vào thực chất. Các chương trình bảo vệ và phục hồi rừng cần có nguồn lực cho điều tra đa dạng sinh học, giám sát loài, phục hồi sinh cảnh, tháo gỡ bẫy, kiểm soát săn bắt, phục hồi kết nối, hỗ trợ cộng đồng và theo dõi hiệu quả dài hạn. Nói cách khác, hệ quy chiếu mới phải đi cùng hệ thống đầu tư mới.

Cuối cùng, cần thận trọng với những thuật ngữ tưởng như tích cực nhưng có thể làm sai lệch bản chất sinh thái như “xanh hóa”, “tăng độ che phủ”, “cải tạo rừng nghèo”, “phát triển cây lâm nghiệp”, hay “đa mục tiêu”. Những thuật ngữ này chỉ nên được sử dụng khi đi kèm định nghĩa rõ ràng, đối tượng cụ thể, tiêu chí sinh thái và đánh giá đánh đổi. Chính sách bảo tồn thiên nhiên cần một ngôn ngữ chính xác hơn: rừng tự nhiên, rừng trồng, cây công nghiệp, phục hồi sinh thái, tái sinh tự nhiên, phục hồi có hỗ trợ, chất lượng sinh cảnh, tính toàn vẹn, kết nối và khả năng phục hồi. Khi ngôn ngữ rõ hơn, quyết định chính sách cũng sẽ ít bị dẫn dắt bởi những con số hoặc hình ảnh quá đơn giản.

Hàm ý chính sách

Bài học lớn nhất từ một thế kỷ thay đổi trong tư duy sinh thái và quản trị rừng là không có một chiếc thước đo nào có thể phản ánh hết giá trị của rừng. Những chiếc thước cũ giúp chúng ta quản lý diện tích, tán cây, gỗ và mục đích sử dụng. Nhưng bảo tồn thiên nhiên cần những chiếc thước mới: đa dạng sinh học, tính toàn vẹn hệ sinh thái, cấu trúc rừng, chức năng sinh thái, khả năng phục hồi, kết nối cảnh quan, sự hiện diện của loài hoang dã và vai trò của cộng đồng địa phương.

Đây không chỉ là câu chuyện thuật ngữ mà có hệ quả trực tiếp đối với chính sách. Nếu chỉ nhìn độ che phủ, chúng ta có thể hài lòng với màu xanh nhưng bỏ qua mất rừng tự nhiên. Nếu chỉ nhìn trữ lượng, chúng ta có thể đánh giá thấp rừng thứ sinh và rừng phục hồi. Nếu chỉ nhìn ba loại rừng, chúng ta có thể bỏ qua các sinh cảnh ngoài hệ thống đặc dụng. Nếu chỉ nhìn rừng trồng như rừng, chúng ta có thể nhầm lẫn giữa sản xuất lâm nghiệp và phục hồi hệ sinh thái.

Việt Nam đã có nền tảng pháp lý và chiến lược để chuyển dịch cách nhìn này. Luật Lâm nghiệp định nghĩa rừng là hệ sinh thái. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030 nhấn mạnh bảo vệ, phục hồi, tính toàn vẹn và kết nối của các hệ sinh thái tự nhiên Quốc hội, 2017; Thủ tướng Chính phủ, 2022). Cách tiếp cận hệ sinh thái của Công ước Đa dạng sinh học (2000) cũng đặt trọng tâm vào quản lý tích hợp đất, nước và sinh vật, thừa nhận con người là một phần của hệ sinh thái và nhấn mạnh quản lý thích ứng. Vấn đề còn lại là đưa các nguyên tắc này vào hệ thống chỉ tiêu, báo cáo, quy hoạch, đầu tư công và thực thi tại hiện trường.

Ở cấp quốc gia, cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá chất lượng rừng tự nhiên gắn với đa dạng sinh học và chức năng sinh thái, thay vì chỉ tập trung vào trữ lượng gỗ. Ở cấp địa phương, cần rà soát các diện tích rừng tự nhiên nghèo, rừng phục hồi, rừng khộp, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên để xác định giá trị sinh thái, tiềm năng phục hồi và vai trò kết nối. Ở cấp dự án, mọi hoạt động trồng rừng, phục hồi rừng, phát triển cây lâm nghiệp hoặc chuyển đổi đất lâm nghiệp cần có đánh giá rõ ràng về tác động đến rừng tự nhiên, đa dạng sinh học, nguồn nước, đất, sinh kế và quyền của cộng đồng địa phương.

Ở khía cạnh truyền thông, cần thay đổi cách kể chuyện về rừng. Một địa phương có tỷ lệ che phủ cao chưa đủ để nói lên chất lượng rừng nếu không biết rừng tự nhiên còn bao nhiêu, đang ở trạng thái nào, loài hoang dã còn hiện diện hay đã biến mất, sinh cảnh có bị chia cắt hay không, và cộng đồng địa phương có đủ điều kiện để bảo vệ rừng lâu dài hay không. Tương tự, số cây trồng mới chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong bối cảnh cụ thể: cây được trồng ở đâu, trên loại đất nào, có thay thế một hệ sinh thái tự nhiên nào không, phục vụ mục tiêu sinh thái hay sản xuất, có phải cây bản địa không, và sau 10 hay 20 năm, diện tích ấy có khả năng trở thành một hệ sinh thái rừng hay chỉ tiếp tục là một chu kỳ sản xuất gỗ.

Kết luận

Lịch sử quản lý rừng ở Việt Nam là lịch sử của nhiều lớp tri thức chồng lên nhau: lâm nghiệp thuộc địa, lâm nghiệp sản xuất, lâm nghiệp kế hoạch hóa, lâm nghiệp thị trường, bảo tồn đa dạng sinh học, dịch vụ hệ sinh thái, phục hồi sinh thái và quản lý cảnh quan. Mỗi giai đoạn để lại một bộ khái niệm. Một số khái niệm vẫn hữu ích, một số đã trở nên quá hẹp, và một số cần được giữ lại nhưng phải đặt trong hệ quy chiếu mới.

Rừng không chỉ là phần xanh trên bản đồ. Không chỉ là tán cây nhìn từ ảnh vệ tinh. Không chỉ là số mét khối gỗ. Không chỉ là một nhãn quản lý hành chính. Và cũng không thể được thay thế bằng bất kỳ diện tích cây công nghiệp hay rừng trồng đơn loài nào.

Rừng là một hệ sinh thái sống. Để bảo vệ rừng, chính sách cần đo được sự sống ấy.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Quyết định số 561/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2025 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024. Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm. https://vnforest.gov.vn/wp-content/uploads/2026/01/cong-bo-hien-trang-rung-toanquoc-nam-2024.pdf

Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026). Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Quyet-dinh-1106-QD-BNNMT-2026-cong-bo-hien-trang-rung-toan-quoc-2025-701641.aspx

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2013). Thông tư số 23/2013/TT-BNNPTNT quy định về cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Thong-tu-23-2013-TT-BNNPTNT-cai-tao-rung-tu-nhien-ngheo-kiet-la-rung-san-xuat-187749.aspx

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2018). Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Thong-tu-33-2018-TT-BNNPTNT-kiem-ke-theo-doi-dien-bien-rung-402802.aspx

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2021). Thông tư số 22/2021/TT-BNNPTNT quy định danh mục loài cây trồng lâm nghiệp chính; công nhận giống và nguồn giống cây trồng lâm nghiệp. https://luatvietnam.vn/nong-nghiep/thong-tu-22-2021-tt-bnnptnt-danh-muc-loai-cay-trong-lam-nghiep-chinh-cong-nhan-giong-va-nguon-giong-cay-trong-lam-nghiep-215222-d1.html

Chính phủ. (2018). Nghị định số 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-dinh-156-2018-ND-CP-huong-dan-Luat-Lam-nghiep-379366.aspx

Cochard, R., Gravey, M., Rasera, L. G., Mariethoz, G., & Kull, C. A. (2023). The nature of a ‘forest transition’ in Thừa Thiên Huế Province, Central Vietnam – A study of land cover changes over five decades. Land Use Policy, 134, 106887. https://doi.org/10.1016/j.landusepol.2023.106887

Convention on Biological Diversity. (2000). COP 5 Decision V/6: Ecosystem approach. https://www.cbd.int/decision/cop/?id=7148

Dang, T. K. P. (2022). The Discourse of Forest Cover in Vietnam and Its Policy Implications. Sustainability, 14(17), 10976. https://doi.org/10.3390/su141710976

de Jong, W., Do Dinh Sam, & Trieu Van Hung. (2006). Forest rehabilitation in Vietnam: histories, realities and future. Center for International Forestry Research (CIFOR). https://doi.org/10.17528/cifor/002106

Food and Agriculture Organization. (2001). Institutional context of forestry education and training in Vietnam. https://www.fao.org/4/y1842e/y1842e28.htm

GIZ. (2023). Analysis of the policy framework and stakeholders involved in oecms management in Viet Nam. https://snrd-asia.org/wp-content/uploads/2023/06/Analysis-of-OECMs-management-in-Viet-Nam_EN.pdf

GIZ. (2024). Other Effective Area-Based Conservation Measures in Viet Nam: Heading Towards Recognition and Effective In-Situ Conservation Beyond Protected Areas. https://www.climatechange.vn/wp-content/uploads/2025/02/OECM_2024_EN.pdf

Hua, F., Bruijnzeel, L. A., Meli, P., Martin, P. A., Zhang, J., Nakagawa, S., Miao, X., Wang, W., McEvoy, C., Peña-Arancibia, J. L., Brancalion, P. H. S., Smith, P., Edwards, D. P., & Balmford, A. (2022). The biodiversity and ecosystem service contributions and trade-offs of forest restoration approaches. Science, 376(6595), 839–844. https://doi.org/10.1126/science.abl4649

McElwee, P. D. (2016). Forests are gold: Trees, people, and environmental rule in Vietnam. University of Washington Press. https://uwapress.uw.edu/book/9780295995489/forests-are-gold/

Meyfroidt, P., & Lambin, E. F. (2009). Forest transition in Vietnam and displacement of deforestation abroad. Proceedings of the National Academy of Sciences, 106(38), 16139–16144. https://doi.org/10.1073/pnas.0904942106

Paudyal, K., Samsudin, Y. B., Baral, H., Okarda, B., Phuong, V. T., Paudel, S., & Keenan, R. J. (2020). Spatial Assessment of Ecosystem Services from Planted Forests in Central Vietnam. Forests, 11(8), 822. https://doi.org/10.3390/f11080822

Quốc hội. (2017). Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Luat-lam-nghiep-367277.aspx

Soulé, M. E. (1985). What is conservation biology? BioScience, 35(11), 727–734. https://doi.org/10.2307/1310054

Thomas, F. (2009). Protection des forêts et environnementalisme colonial : Indochine, 1860-1945. Revue d’histoire Moderne & Contemporaine, n° 56-4(4), 104–136. https://doi.org/10.3917/rhmc.564.0104

Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=205263&pageid=27160

Tô, X. P., Trần, H. N. (2014). Rubber Expansion and Forest Protection in Vietnam. Forest Trends and Tropenbos International Vietnam. https://www.forest-trends.org/wp-content/uploads/imported/rubber-expansion-and-forest-protection-in-viet-nam_final-pdf.pdf

Trần, Q. B., Lã, N. K., Lê, S. D., Nguyễn, V. T., Phạm, V. D., Nguyễn, T. M. D., Bùi, T. M. N., & Nguyễn, T. C. (2022). THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN SUY GIẢM DIỆN TÍCH RỪNG KHỘP Ở TÂY NGUYÊN. Tạp Chí Khoa Học và Công Nghệ Lâm Nghiệp, (4), 65–77. https://doi.org/10.55250/jo.vnuf.2022.4.065-077

Trường Đại học Lâm nghiệp. (n.d.). Lịch sử hình thành và phát triển. https://vnuf.edu.vn/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-2.html

Williams, B. A., Beyer, H. L., Fagan, M. E., Chazdon, R. L., Schmoeller, M., Sprenkle-Hyppolite, S., Griscom, B. W., Watson, J. E. M., Tedesco, A. M., Gonzalez-Roglich, M., Daldegan, G. A., Bodin, B., Celentano, D., Wilson, S. J., Rhodes, J. R., Alexandre, N. S., Kim, D.-H., Bastos, D., & Crouzeilles, R. (2024). Global potential for natural regeneration in deforested tropical regions. Nature, 636(8041), 131–137. https://doi.org/10.1038/s41586-024-08106-4

World Bank. (2019). Country forest note: Vietnam. World Bank Group. https://documents1.worldbank.org/curated/en/544891570456214844/pdf/Vietnam-Country-Forest-Note.pdf

Cập nhật

Cùng Nuôi Biển
Tham gia