Khái niệm “vùng đất ngập nước” được quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định 66/2019/NĐ-CP về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước. Theo đó, vùng đất ngập nước là “vùng đầm lầy, vùng đất than bùn, vùng ngập nước thường xuyên hoặc ngập nước tạm thời theo mùa, kể cả các vùng ven biển, ven đảo có độ sâu không quá 06 mét khi ngấn nước thủy triều thấp nhất” (Chính phủ, 2019). Định nghĩa này cho thấy đất ngập nước không chỉ bao gồm các đầm lầy hay vùng nước nội địa, mà còn bao gồm các hệ sinh thái ven biển, ven đảo và các vùng ngập theo mùa. Về bản chất, đây là những không gian chuyển tiếp giữa đất và nước, nơi chế độ ngập nước đóng vai trò quyết định đối với cấu trúc, chức năng sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái.
Đất ngập nước là một trong những hệ sinh thái nền tảng của cảnh quan tự nhiên và sinh kế con người, trong đó nước, đất, phù sa, thảm thực vật, động vật hoang dã và hoạt động cộng đồng tương tác trong một hệ thống sinh thái phức tạp. Từ rừng ngập mặn ven biển, bãi triều cửa sông, đầm phá, hồ tự nhiên, vùng than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa đến ao hồ đô thị và vùng chiêm trũng, đất ngập nước giữ vai trò quan trọng trong điều tiết nước, duy trì đa dạng sinh học, lưu trữ carbon, giảm thiểu rủi ro thiên tai và hỗ trợ sinh kế. Tuy nhiên, do thường bị nhìn nhận như vùng đất có giá trị sử dụng thấp hoặc khó khai thác, nhiều hệ sinh thái đất ngập nước đã bị san lấp, tháo khô, chia cắt, ô nhiễm hoặc chuyển đổi sang các mục đích kinh tế ngắn hạn.
Bàn về phục hồi đất ngập nước vì vậy không chỉ là bàn về việc khôi phục một kiểu hệ sinh thái đã bị suy thoái. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh nước, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý rủi ro thiên tai và chất lượng phát triển của các vùng nông thôn, đô thị, ven sông, ven biển. Trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với ngập lụt cực đoan, hạn hán, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển, ô nhiễm nguồn nước và suy giảm sinh cảnh tự nhiên, phục hồi đất ngập nước cần được nhìn nhận như một hướng tiếp cận chiến lược: không phải để quay lại nguyên trạng quá khứ, mà để khôi phục các chức năng sinh thái thiết yếu, giúp cảnh quan và cộng đồng trở nên an toàn, bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn.
Từ đất hoang đến hạ tầng sinh thái
Đất ngập nước từng bị nhìn như vùng đất thừa, đất hoang, đất khó sử dụng hoặc không gian chờ được san lấp. Một bãi bùn cửa sông, một vùng trũng theo mùa, một đầm lầy, một rừng ngập mặn hay một hồ nước nông rất dễ bị đánh giá thấp nếu chỉ nhìn qua lăng kính đất đai, xây dựng hay giá trị kinh tế ngắn hạn. Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, việc tháo khô, san lấp và chuyển đổi đất ngập nước từng được coi là biểu hiện của khai phá và hiện đại hóa. Năm 1984, báo cáo của Văn phòng Đánh giá Công nghệ thuộc Quốc hội Hoa Kỳ ghi nhận đất ngập nước là đất hoang, do đó việc chuyển đổi chúng sang mục đích nông nghiệp, đô thị hoặc hạ tầng từng được khuyến khích như một lựa chọn phát triển hợp lý theo tư duy thời kỳ đó.
Tuy nhiên, khoa học sinh thái, thủy văn và kinh tế môi trường trong vài thập kỷ gần đây đã đảo ngược cách nhìn này. Đất ngập nước không phải là phần dư của cảnh quan, mà là một dạng hạ tầng sinh thái. Chúng giữ nước, làm chậm dòng chảy, lọc một phần chất ô nhiễm, giữ phù sa, bảo vệ bờ biển, giảm xói lở, nuôi nguồn lợi thủy sản, duy trì đa dạng sinh học, lưu trữ carbon và hỗ trợ sinh kế. Robertson và cộng sự (2025) ước tính từ năm 1970, thế giới đã mất khoảng 411 triệu ha đất ngập nước, tương đương khoảng 22% tổng diện tích toàn cầu; khoảng 25% diện tích còn lại đang ở tình trạng sinh thái kém. Báo cáo cũng ước tính các vùng đất ngập nước còn lại có thể cung cấp tới khoảng 39 nghìn tỷ USD lợi ích mỗi năm cho con người, kinh tế và tự nhiên.
Vấn đề cốt lõi là nhiều giá trị của đất ngập nước không được phản ánh đầy đủ trong các tính toán đầu tư. Một khu đất sau khi san lấp có thể được định giá bằng giá đất, tiền thuê đất, sản lượng nuôi trồng, diện tích xây dựng hoặc doanh thu dịch vụ. Ngược lại, giá trị giữ nước, giảm ngập, lọc nước, duy trì nguồn cá tự nhiên, bảo vệ bờ biển, hỗ trợ chim di cư, lưu trữ carbon hay giữ gìn ký ức sinh thái cộng đồng thường là những lợi ích phân tán, dài hạn và khó quy đổi ngay thành tiền. Chính sự bất cân xứng này khiến đất ngập nước dễ bị hy sinh trong quy hoạch, dù chi phí xã hội và sinh thái của việc mất chúng có thể kéo dài nhiều thập kỷ.
Suy giảm đất ngập nước và những giá trị bị bỏ quên
Trên phạm vi toàn cầu, các nghiên cứu cho thấy mất đất ngập nước hiếm khi xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ. Phân tích tổng hợp 105 trường hợp chuyển đổi đất ngập nước trên thế giới cho thấy phát triển nông nghiệp là nguyên nhân trực tiếp chính, trong khi tăng trưởng kinh tế và mật độ dân số là các động lực nền phổ biến. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mở rộng đất canh tác, đô thị hóa, phát triển hạ tầng, xây dựng kênh mương, đập, đê bao và các hình thức kiểm soát nước khác có thể làm thay đổi hoặc phá vỡ chức năng của đất ngập nước (Asselen et al., 2013).
Đất ngập nước có giá trị trước hết vì chúng là một phần của hệ thống nước. Các vùng trũng, bãi ngập, hồ, đầm lầy, rừng ngập mặn, vùng triều và trảng cỏ ngập nước giúp điều tiết dòng chảy, giữ nước, làm chậm lũ, giảm xói lở và góp phần cải thiện chất lượng nước. Theo Ferreira và cộng sự (2023), đất ngập nước là hệ thống đa chức năng, có thể hỗ trợ điều tiết thủy văn, lưu giữ nước mặt, ảnh hưởng đến thấm nước, bổ cập nước ngầm, điều hòa dòng chảy và loại bỏ hoặc giảm một phần các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ trong những điều kiện phù hợp.
Đất ngập nước cũng là trung tâm của đa dạng sinh học. Theo Công ước Đa dạng sinh học (2025), khoảng 40% các loài thực vật và động vật trên thế giới sống hoặc sinh sản trong đất ngập nước; các vùng đất ngập nước nước ngọt đặc biệt quan trọng đối với lưỡng cư, cá và nhiều nhóm động vật có xương sống. Điều này lý giải vì sao nhiều vùng đất ngập nước nhỏ, dù không có danh hiệu quốc tế hay không nằm trong khu bảo tồn, vẫn có thể là nơi sinh sản của cá, nơi kiếm ăn của chim nước, nơi trú ẩn của lưỡng cư, bò sát, côn trùng và nhiều nhóm sinh vật ít được chú ý.
Giá trị carbon của đất ngập nước cũng cần được nhìn nhận đúng, nhưng không nên đơn giản hóa. Than bùn, rừng ngập mặn, đầm lầy mặn, thảm cỏ biển và nhiều kiểu đất ngập nước ven biển có thể lưu trữ lượng carbon lớn trong sinh khối, đất và bùn. Tuy nhiên, đất ngập nước cũng có thể phát thải methane tự nhiên. Khi phục hồi đất ngập nước bằng cách làm ướt trở lại, phát thải CO₂ có thể giảm nhưng methane có thể tăng trong một số điều kiện. Phân tích quy mô toàn cầu về đất ngập nước nước ngọt cho thấy phần lớn đất than bùn phục hồi và toàn bộ đất than bùn tự nhiên trong mẫu nghiên cứu là bể hấp thụ carbon ròng, trong khi phần lớn đất than bùn suy thoái là nguồn phát thải carbon; nhóm tác giả cũng lưu ý lợi ích khí hậu của phục hồi đất ngập nước cần được đánh giá trong khung thời gian dài (Schuster và cộng sự, 2024).
Việt Nam trong bức tranh đất ngập nước
Việt Nam là quốc gia có hệ thống đất ngập nước đa dạng, trải dài từ miền núi đến đồng bằng, từ nội địa ra ven biển và hải đảo. Theo Báo cáo quốc gia lần thứ sáu của Việt Nam gửi Công ước Đa dạng sinh học, tổng diện tích đất ngập nước của Việt Nam được cập nhật khoảng 11.847.975 ha, chưa bao gồm diện tích các sông, suối ngập nước theo mùa, các mạch nước, các điểm nước nóng và nước khoáng; con số này tương đương khoảng 37% diện tích tự nhiên cả nước. Báo cáo cũng ghi nhận 74 vùng đất ngập nước quan trọng ở cấp quốc tế và quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2019).
Báo cáo Đánh giá hệ sinh thái quốc gia cho biết Đồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 51% diện tích đất ngập nước của cả nước, trong khi Đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 13%. Điều này cho thấy đất ngập nước không phải là một thành phần sinh thái ngoại vi, mà là cấu phần trung tâm của hai vùng đồng bằng quan trọng nhất về an ninh lương thực, thủy sản, dân cư và phát triển kinh tế của Việt Nam (ISPONRE & CBC, 2021).
Việt Nam hiện có 9 khu Ramsar với tổng diện tích khoảng 120.549 ha, gồm Xuân Thủy, Bàu Sấu, Ba Bể, Tràm Chim, Mũi Cà Mau, Côn Đảo, Láng Sen, U Minh Thượng và Vân Long (Ramsar Sites Information Service, n.d.). Các khu này đại diện cho nhiều kiểu đất ngập nước khác nhau: vùng cửa sông ven biển và bãi bồi ở Xuân Thủy; vùng đất ngập nước nội địa và sinh cảnh cá sấu Xiêm ở Bàu Sấu; hồ nước ngọt vùng núi đá vôi ở Ba Bể; trảng cỏ ngập nước theo mùa ở Tràm Chim; rừng ngập mặn và bãi triều ở Mũi Cà Mau; hệ sinh thái biển, rạn san hô và thảm cỏ biển ở Côn Đảo; vùng ngập nước Đồng Tháp Mười ở Láng Sen; rừng tràm than bùn ở U Minh Thượng; và vùng đất ngập nước trong cảnh quan núi đá vôi ở Vân Long.
Tuy nhiên, giá trị đất ngập nước của Việt Nam không chỉ nằm trong các khu Ramsar. Nhiều ao hồ đô thị, đầm phá miền Trung, bãi triều cửa sông, vùng trũng ven sông, hành lang sông suối, rừng ngập mặn nhỏ, ruộng lúa ngập theo mùa, đầm lầy, vùng than bùn, hồ tự nhiên và vùng nước nông trong cảnh quan nông nghiệp cũng có vai trò sinh thái đáng kể. Đây chính là phần đất ngập nước dễ bị bỏ qua nhất trong quy hoạch vì chúng thường nhỏ, phân tán, khó định danh, ít dữ liệu, không có danh hiệu bảo tồn và thường nằm trong vùng chịu áp lực phát triển cao.
Đồng bằng sông Cửu Long là ví dụ rõ nhất về sự biến đổi lâu dài của đất ngập nước. Nghiên cứu tổng quan về hơn 200 năm suy thoái đất ngập nước trong vùng này xác định nhiều động lực chính, gồm chính sách tái định cư và phát triển kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa, nhu cầu lương thực, khai hoang đất ngập nước cho nông nghiệp, xây dựng kênh mương, đê bao, giao thông và khai thác tài nguyên tự nhiên. Trong các động lực đó, chính sách tái định cư và phát triển kinh tế được đánh giá là có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử suy thoái đất ngập nước của đồng bằng (Nguyen và cộng sự, 2016).
Áp lực đối với đất ngập nước hiện nay không chỉ là mất diện tích, mà còn là suy giảm chức năng sinh thái. Đê bao, kênh mương, kiểm soát lũ, chuyển đổi đất, nuôi trồng thủy sản thâm canh, ô nhiễm nông nghiệp, ô nhiễm chăn nuôi, nước thải sinh hoạt, khai thác nước ngầm, sụt lún, xói lở bờ biển, suy giảm phù sa và biến đổi khí hậu đều có thể làm đất ngập nước mất dần nhịp sinh thái vốn có. Một vùng đất ngập nước vẫn còn trên bản đồ nhưng nếu mất kết nối thủy văn, mất mùa ngập tự nhiên, nước bị ô nhiễm, sinh cảnh bị chia cắt hoặc loài bản địa suy giảm thì chức năng sinh thái của nó đã bị tổn thương nghiêm trọng.
Rừng ngập mặn cho thấy rõ tính hai mặt của câu chuyện bảo tồn thiên nhiên và phục hồi sinh thái. Nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu Landsat và Google Earth Engine về vùng ven biển phía Nam Việt Nam giai đoạn 1988–2023 cho thấy khoảng một nửa diện tích rừng ngập mặn đã mất do chuyển đổi sử dụng đất trong 36 năm, trong đó giai đoạn 1998–2011 có mức suy giảm mạnh nhất, với tổng diện tích giảm 46,79% (Tran và cộng sự, 2024). Tuy nhiên, một số khu vực cũng ghi nhận tín hiệu phục hồi nhờ bảo vệ, trồng rừng, tái sinh tự nhiên và chính sách phục hồi rừng ven biển. Điều này cho thấy phục hồi là khả thi, nhưng hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào địa điểm, thủy văn, bùn cát, quyền sử dụng đất, sinh kế và mức độ tham gia của cộng đồng.
Ở các vùng đất ngập nước nội địa, Tràm Chim là một trường hợp đáng chú ý. Đây là một trong những mảnh còn lại của hệ sinh thái Đồng Tháp Mười, góp phần bảo tồn các trảng cỏ ngập nước, rừng tràm, chim nước và sinh cảnh của sếu đầu đỏ. Nhưng Tràm Chim cũng cho thấy quản lý đất ngập nước không thể tách rời quản lý nước. Nghiên cứu về quản lý nước tại Tràm Chim chỉ ra rằng việc giữ nước quá khô hoặc quá lâu ở một số khu vực có thể làm oxy hóa đất phèn, gây nước chua khi mùa mưa đến. Vì vậy, phục hồi thủy văn và điều tiết nước phù hợp là điều kiện cốt lõi của phục hồi hệ sinh thái (Truyen và cộng sự, 2014).
Vân Long ở Ninh Bình cho thấy một kiểu giá trị khác của đất ngập nước: sự kết nối giữa mặt nước, núi đá vôi, chim nước, thủy sinh và loài linh trưởng đặc hữu. Khu bảo tồn này được công nhận là Ramsar thứ 9 của Việt Nam và là nơi sinh sống của quần thể loài Voọc mông trắng lớn nhất thế giới, một loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp và đặc hữu của Việt Nam (IUCN Green List, n.d.). Ví dụ này cho thấy đất ngập nước không chỉ là nơi bảo tồn chim cá, mà còn có thể là thành phần quyết định trong một cảnh quan bảo tồn rộng hơn.
Nhu cầu phục hồi đất ngập nước ở Việt Nam vì vậy không nên hiểu hạn hẹp là trồng lại rừng ngập mặn. Đó là nhu cầu phục hồi chức năng sinh thái của nhiều kiểu hệ sinh thái: rừng ngập mặn ven biển, bãi triều cửa sông, vùng trũng ngập theo mùa, rừng tràm, than bùn, hồ tự nhiên, đầm phá, hành lang sông suối, ao hồ đô thị và các sinh cảnh nước nông trong cảnh quan nông nghiệp. Trọng tâm không chỉ là tăng diện tích được khoanh vùng bảo vệ, mà là phục hồi chế độ thủy văn, chất lượng nước, nền đất, bùn cát, thảm thực vật bản địa, nguồn lợi thủy sinh, sinh cảnh chim nước, khả năng lưu trữ carbon và sinh kế bền vững của cộng đồng.
Phục hồi đất ngập nước cần làm như thế nào?
Phục hồi đất ngập nước cần bắt đầu từ câu hỏi hệ sinh thái đã suy thoái vì nguyên nhân nào. Nếu một vùng đất ngập nước bị mất nước do đê bao hoặc mương thoát nước, phục hồi phải bắt đầu bằng thủy văn. Nếu bị ô nhiễm bởi nước thải chăn nuôi, nông nghiệp hoặc sinh hoạt, phục hồi phải bắt đầu bằng kiểm soát nguồn thải. Nếu rừng ngập mặn chết vì sóng mạnh, thiếu bùn cát hoặc cao trình không phù hợp, việc trồng cây mới sẽ khó thành công nếu không phục hồi nền bãi và điều kiện thủy triều. Nếu vùng trũng nội địa bị loài ngoại lai xâm lấn, phục hồi phải bao gồm kiểm soát loài xâm hại và tạo điều kiện cho thực vật bản địa quay trở lại.
Theo Ramsar (n.d.) và FAO, IUCN CEM, & SER (2021), phục hồi đất ngập nước cần dựa trên đánh giá hiện trạng, xác định nguyên nhân suy thoái, đặt mục tiêu rõ ràng, lựa chọn biện pháp phù hợp, có sự tham gia của các bên liên quan và theo dõi sau phục hồi. Phân tích tổng hợp 70 nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phục hồi có thể giúp đất ngập nước cải thiện đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái, nhưng kết quả phụ thuộc rất lớn vào bối cảnh, loại hệ sinh thái, mức độ suy thoái, biện pháp phục hồi, thời gian phục hồi và tiêu chí đánh giá (Meli et al., 2014).
Với rừng ngập mặn, giải pháp thực tiễn đầu tiên là chọn đúng nơi để phục hồi. Không phải bãi bùn nào cũng phù hợp để trồng, và không phải nơi có tiềm năng phục hồi nào cũng cần trồng. Hướng dẫn phục hồi rừng ngập mặn của Liên minh Rừng ngập mặn toàn cầu và Sáng kiến Carbon xanh dương nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá điều kiện thủy văn, cao trình ngập, sóng, bùn cát, nguồn giống tự nhiên, nguyên nhân mất rừng và bối cảnh xã hội trước khi can thiệp. Ở những nơi còn nguồn giống, còn kết nối thủy triều và các tác nhân gây suy thoái đã được loại bỏ, tái sinh tự nhiên hoặc hỗ trợ tái sinh tự nhiên có thể hiệu quả hơn trồng dày một loài cây trên diện rộng (Global Mangrove Alliance & Blue Carbon Initiative, 2024).
Với Đồng bằng sông Cửu Long, phục hồi rừng ngập mặn cần đặc biệt chú ý đến xói lở, thiếu bùn cát, sụt lún, quyền sử dụng đất và sinh kế nuôi trồng thủy sản. Báo cáo của CIFOR-ICRAF nhấn mạnh rằng một dự án phục hồi thành công không nhất thiết phải có giai đoạn trồng cây nếu có thể loại bỏ tác nhân gây suy thoái, đồng thời khôi phục điều kiện thủy văn, khu vực lặng sóng và môi trường phù hợp cho tái sinh tự nhiên. Báo cáo cũng cho thấy việc xác định địa điểm phục hồi tiềm năng cần dựa trên phân tích không gian, chính sách, khả năng tái sinh tự nhiên và tham vấn các bên liên quan (Pham và cộng sự, 2022).
Với đất ngập nước nội địa như Tràm Chim, Láng Sen hoặc các vùng trũng ngập theo mùa, phục hồi phải tập trung vào nhịp nước. Điều này bao gồm xác định mực nước tối ưu theo mùa, tránh giữ nước cao quanh năm nếu điều này làm mất sinh cảnh cỏ ngập nước, điều chỉnh cống và đê để mô phỏng tốt hơn chu kỳ ngập tự nhiên, kiểm soát cháy trong rừng tràm nhưng không làm mất hoàn toàn động lực sinh thái của mùa khô, đồng thời duy trì các vùng nước nông cho chim nước, cá, lưỡng cư và thực vật thủy sinh. Trường hợp Tràm Chim cho thấy phục hồi thủy văn không chỉ là đưa thêm nước vào hệ sinh thái, mà còn là điều tiết đúng thời điểm, đúng độ sâu và đúng mục tiêu sinh thái.
Với vùng than bùn và rừng tràm trên đất than bùn, ưu tiên hàng đầu là giữ ẩm, phòng cháy, hạn chế tháo khô và phục hồi mực nước phù hợp. Khi than bùn bị tháo khô, chất hữu cơ bị oxy hóa, làm tăng nguy cơ cháy và phát thải carbon. Nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy các kiểu đất ngập nước như rừng ngập mặn, rừng tràm trên đất sét, rừng tràm trên đất than bùn và trảng cỏ ngập nước đều có vai trò lưu trữ carbon trong đất. Trong đó, rừng tràm trên đất than bùn có trữ lượng carbon hữu cơ trong đất cao nhất (Anh và cộng sự., 2025). Vì vậy, phục hồi đất than bùn cần tập trung vào phục hồi chế độ nước và giảm nguy cơ cháy bên cạnh việc can thiệp bằng trồng cây.
Với ao hồ đô thị, vùng trũng ven sông và đất ngập nước nhỏ trong cảnh quan nông nghiệp, phục hồi có thể bắt đầu bằng các biện pháp thực tế: không san lấp phần còn lại, khôi phục hành lang thoát lũ, tạo vùng đệm thực vật ven hồ và ven kênh, giảm bê tông hóa bờ nước, xử lý nước thải trước khi đổ vào hồ, loại bỏ rác và bùn ô nhiễm có kiểm soát, phục hồi cây bản địa ven nước, tạo vùng nước nông cho chim và các loài thủy sinh, và thiết kế hồ điều hòa theo hướng gần tự nhiên thay vì chỉ là bể chứa nước mưa. Đây là nhóm giải pháp rất phù hợp với các đô thị và vùng ven đô của Việt Nam, nơi ao hồ và vùng trũng đang bị thu hẹp nhanh nhưng lại rất cần cho giảm ngập, điều hòa vi khí hậu và cải thiện chất lượng sống.
Với đầm phá và vùng cửa sông ven biển miền Trung, phục hồi cần gắn với kiểm soát ô nhiễm, quản lý nguồn lợi thủy sản, giảm khai thác quá mức, bảo vệ bãi triều, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn nhỏ, cửa lạch và vùng nước nông. Ở những hệ sinh thái này, phục hồi cần gắn với quản lý lưu vực, quản lý nguồn thải, quy hoạch nuôi trồng thủy sản, giao thông đường thủy, du lịch và khai thác cát, sỏi, bùn.
Một nguyên tắc thực hành xuyên suốt là phục hồi sinh thái phải có sự tham gia của cộng đồng. Nhiều cộng đồng sống quanh đất ngập nước phụ thuộc vào đánh bắt, nuôi trồng, thu hái, chăn thả, du lịch sinh thái, nông nghiệp và tri thức địa phương về mùa nước. Nếu phục hồi chỉ áp đặt mục tiêu sinh thái mà không tính đến quyền tiếp cận tài nguyên, sinh kế, phân bổ lợi ích và sự tham gia của người dân, kết quả sẽ khó bền vững. Ngược lại, cộng đồng có thể tham gia giám sát mực nước, ghi nhận chim cá trở lại, bảo vệ cây tái sinh, kiểm soát khai thác tận diệt, phát hiện nguồn thải và duy trì các quy ước sử dụng tài nguyên phù hợp.
Cuối cùng, phục hồi đất ngập nước cần hệ thống giám sát dài hạn. Không thể đánh giá hiệu quả phục hồi chỉ bằng số cây trồng, số hecta khoanh vùng hoặc ảnh chụp sau lễ phát động. Các chỉ số cần theo dõi gồm chế độ nước, chất lượng nước, độ mặn, bùn cát, nền đất, tỷ lệ sống và tái sinh tự nhiên của cây bản địa, loài ngoại lai, chim nước, cá và thủy sinh, carbon đất, rủi ro cháy, sinh kế cộng đồng và mức độ tham gia của người dân. Ở những nơi có điều kiện, viễn thám, GIS, thiết bị đo mực nước, quan trắc chất lượng nước và khoa học công dân có thể giúp giảm chi phí giám sát và tạo dữ liệu tin cậy hơn cho quản lý thích ứng.
Kiến nghị chính sách
Trước hết, cần xác lập rõ nguyên tắc ưu tiên bảo vệ các vùng đất ngập nước tự nhiên còn vận hành tốt trước khi nói đến phục hồi. Phục hồi là cần thiết, nhưng không thể là lý do để tiếp tục chuyển đổi các vùng đất ngập nước còn nguyên vẹn. Một hệ sinh thái đất ngập nước còn vận hành tốt thường có chi phí duy trì thấp hơn, ít rủi ro hơn và có giá trị sinh thái cao hơn nhiều so với một hệ sinh thái đã bị phá vỡ rồi mới tìm cách phục hồi. Trong đánh giá quy hoạch, dự án và chuyển đổi sử dụng đất, cần xem việc mất đất ngập nước tự nhiên là mất hạ tầng sinh thái, không chỉ là thay đổi mục đích sử dụng đất.
Thứ hai, cần hoàn thiện và thực thi nghiêm hệ thống kiểm kê, phân loại, giám sát và quản lý các vùng đất ngập nước quan trọng. Nghị định 66/2019/NĐ-CP đã tạo khung pháp lý riêng cho bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước, bao gồm kiểm kê, quản lý, giám sát và bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng (Chính phủ, 2019). Tuy nhiên, khoảng cách lớn nằm ở khâu thực thi: nhiều vùng đất ngập nước nhỏ, vùng trũng, ao hồ, bãi bồi, đầm lầy, hành lang sông suối và vùng ngập theo mùa vẫn chưa được nhận diện đầy đủ trong quy hoạch, cơ sở dữ liệu và công cụ quản lý đất đai.
Thứ ba, cần đưa đất ngập nước vào quy hoạch như một dạng hạ tầng sinh thái của quốc gia, địa phương và đô thị. Các quy hoạch tỉnh, đô thị, thủy lợi, sử dụng đất, bảo tồn và phòng chống thiên tai cần xác định rõ vùng đất ngập nước cần được bảo vệ nghiêm ngặt, vùng cần phục hồi, vùng có thể sử dụng bền vững và vùng cần kiểm soát chuyển đổi. Đặc biệt, các vùng trũng tự nhiên, ao hồ đô thị, bãi bồi cửa sông, rừng ngập mặn, vùng ngập theo mùa và hành lang sông suối cần được tích hợp vào chiến lược giảm ngập, thích ứng khí hậu và quản lý nước thay vì bị xem là quỹ đất dự phòng.
Thứ tư, cần thiết lập chương trình phục hồi đất ngập nước cấp quốc gia hoặc lồng ghép rõ ràng hơn vào các chương trình hiện có về đa dạng sinh học, thích ứng khí hậu, quản lý tài nguyên nước và giảm rủi ro thiên tai. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu tăng diện tích các hệ sinh thái tự nhiên được bảo vệ, phục hồi và duy trì tính toàn vẹn, đồng thời gắn bảo tồn đa dạng sinh học với tăng trưởng xanh và thích ứng biến đổi khí hậu (Chính phủ, 2022). Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đặt mục tiêu mở rộng hệ thống khu bảo tồn lên 6,6 triệu ha và tăng cường kết nối sinh cảnh (Chính phủ, 2024). Đây là cơ sở chính sách thuận lợi để đưa phục hồi đất ngập nước thành một hợp phần rõ ràng hơn trong thực thi.
Thứ năm, cần cải thiện cơ chế đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án có nguy cơ làm mất hoặc suy thoái đất ngập nước. Các dự án hạ tầng, đô thị, khu công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, cảng biển, đê kè, thủy lợi, khai thác cát và chuyển đổi đất ven sông, ven biển cần đánh giá đầy đủ tác động đến chế độ nước, bùn cát, kết nối sinh thái, chất lượng nước, sinh cảnh chim cá, carbon đất và sinh kế cộng đồng. Việc đánh giá không nên chỉ dừng ở diện tích bị chiếm dụng trực tiếp, mà cần xem xét cả tác động gián tiếp và tích lũy ở quy mô lưu vực hoặc cảnh quan.
Thứ sáu, cần phát triển cơ chế tài chính cho bảo tồn và phục hồi đất ngập nước. Nguồn lực công là cần thiết, nhưng không đủ. Có thể lồng ghép đất ngập nước vào chi trả dịch vụ hệ sinh thái, tài chính khí hậu, carbon xanh, trách nhiệm mở rộng của doanh nghiệp, bù đắp đa dạng sinh học với điều kiện nghiêm ngặt, quỹ bảo tồn địa phương, đầu tư ESG và các chương trình phát triển đô thị chống chịu. Tuy nhiên, mọi cơ chế tài chính phải bảo đảm tính toàn vẹn sinh thái, không biến phục hồi thành “giấy phép” để phá hủy nơi khác, và không làm suy giảm quyền lợi chính đáng của cộng đồng địa phương.
Thứ bảy, cần đầu tư vào khoa học, dữ liệu và năng lực quản lý đất ngập nước. Việt Nam cần xây dựng bản đồ cập nhật về hiện trạng, chất lượng, mức độ suy thoái, áp lực chuyển đổi và tiềm năng phục hồi của các vùng đất ngập nước quan trọng. Cần ưu tiên nghiên cứu về thủy văn sinh thái, carbon đất, đa dạng sinh học, loài ngoại lai, ô nhiễm, sinh kế và hiệu quả phục hồi ở các kiểu đất ngập nước khác nhau. Đồng thời, cần nâng cao năng lực cho chính quyền địa phương, ban quản lý khu bảo tồn, cộng đồng, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong thiết kế, triển khai và giám sát phục hồi sinh thái.
Kết luận
Phục hồi đất ngập nước không đơn thuần là một hoạt động trang trí cảnh quan hay phong trào trồng cây theo mùa. Đó là quá trình phục hồi các chức năng sinh thái đã bị suy giảm: nước có đường đi, bùn có chỗ lắng, cây bản địa có nơi phục hồi, cá có nơi sinh sản, chim có chỗ dừng chân, carbon có nơi tích lũy, cộng đồng có sinh kế phù hợp và cảnh quan có khả năng tự điều tiết tốt hơn trước các cú sốc khí hậu.
Trước hết cần thay đổi tư duy về đất ngập nước. Khi gọi một vùng trũng là “đất hoang”, người ta dễ nghĩ đến san lấp. Khi gọi một bãi bùn là “mặt bằng chưa khai thác”, người ta dễ nghĩ đến chuyển đổi. Nhưng khi nhìn đó là đất ngập nước, chúng ta bắt đầu thấy một hệ sinh thái đang làm việc cho con người và tự nhiên. Trong bối cảnh ngập lụt cực đoan, hạn hán, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, những vùng đất từng bị xem là lầy lội, ẩm thấp và kém giá trị có thể lại chính là một nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững.
Phục hồi đất ngập nước vì vậy không phải là quay lưng với phát triển, mà là hướng đi bền vững, biết để lại không gian cho nước, cho sự sống và cho chính sự an toàn lâu dài của con người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anh, L. N. T., Ly, N. T. H., Nguyen, H., & Phuong, N. T. (2025). Characterizing soil properties and carbon storage potential across diverse wetlands in the Vietnamese Mekong Delta. Journal of Ecological Engineering, 26(4), 111–122. https://doi.org/10.12911/22998993/199817
Asselen, S. van, Verburg, P. H., Vermaat, J. E., & Janse, J. H. (2013). Drivers of Wetland Conversion: a Global Meta-Analysis. PLoS ONE, 8(11), e81292. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0081292
Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2019). The sixth national report to the Convention on Biological Diversity. https://www.cbd.int/doc/nr/nr-06/vn-nr-06-en.pdf
Chính phủ. (2019). Nghị định số 66/2019/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2019 về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước. https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=197480
Chính phủ. (2022). Quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205263
Chính phủ. (2024). Quyết định số 1352/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=211645
Convention on Biological Diversity. (2025). World Wetlands Day 2025. https://www.cbd.int/article/world-wetlands-day-2025
FAO, IUCN CEM & SER. 2021. Principles for ecosystem restoration to guide the United Nations Decade 2021–2030. Rome, FAO. https://www.decadeonrestoration.org/publications/principles-ecosystem-restoration-guide-united-nations-decade-2021-2030
Ferreira, C. S. S., Kašanin-Grubin, M., Solomun, M. K., Sushkova, S., Minkina, T., Zhao, W., & Kalantari, Z. (2023). Wetlands as nature-based solutions for water management in different environments. Current Opinion in Environmental Science & Health, 33, 100476. https://doi.org/10.1016/j.coesh.2023.100476
Global Mangrove Alliance & Blue Carbon Initiative. (2024). Best Practice Guidelines for Mangrove Restoration. https://www.mangrovealliance.org/best-practice-guidelines-for-mangrove-restoration
ISPONRE & CBC. (2022). National Ecosystem Assessment Report of Vietnam. https://ispae.vn/uploads/xuat-ban-pham/2022_05/files/vietnam-final-nea-report-eng-final.pdf
IUCN Green List. (n.d.). Van Long Nature Reserve. https://iucngreenlist.org/sites/van-long-nature-reserve/
Meli, P., Rey Benayas, J. M., Balvanera, P., & Martínez Ramos, M. (2014). Restoration Enhances Wetland Biodiversity and Ecosystem Service Supply, but Results Are Context-Dependent: A Meta-Analysis. PLoS ONE, 9(4), e93507. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0093507
Nguyen, H. H., Dargusch, P., Moss, P., & Tran, D. B. (2016). A review of the drivers of 200 years of wetland degradation in the Mekong Delta of Vietnam. Regional Environmental Change, 16(8), 2303–2315. https://doi.org/10.1007/s10113-016-0941-3
Nguyen, T. D. L., Phan, T. T. H., Dang, K. B., Pham, T. P. N., Pham, H. N., & Do, T. N. (2026). Valuation of wetland ecosystem services in Xuan Thuy National Park. VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, 42(2). DOI: https://doi.org/10.25073/2588-1094/vnuees.5310
Pham, T. T., Vien, N. N., Vo, Q. T., Tang, T. K. H., Nguyen, T. L., Tran, N. M. H., Nguyen, T. T. A., Nguyen, T. V. A., & Nguyen, N. Q. (2022). Opportunities and challenges for mangrove restoration in the Mekong Delta: Status, policies and stakeholder outlook. Center for International Forestry Research (CIFOR). https://doi.org/10.17528/cifor/008610
Ramsar Sites Information Service. (n.d.). Annotated list of wetlands of international importance: Viet Nam. https://rsis.ramsar.org/sites/default/files/rsiswp_search/exports/Ramsar-Sites-annotated-summary-Viet-Nam.pdf
Ramsar. (n.d.). Principles and guidelines for wetland restoration. https://www.ramsar.org/document/principles-and-guidelines-wetland-restoration
Robertson, H., Fennessy, S., Hilton, G., Job, N., Kumar, R., Simpson, M., Aggestam, F., Aldred, M., Chacón, A., Costanza, R., Davidson, N., Field, C., Finlayson, C. M., Gandra, F., Gillis, L. G., Hernández-Blanco, M., Moritsch, M., Thornton, S., … van ’t Hoff, V. (2025). Global Wetland Outlook 2025: Valuing, conserving, restoring and financing wetlands. Convention on Wetlands. https://doi.org/10.69556/gwo-2025-eng
Schuster, L., Taillardat, P., Macreadie, P. I., & Malerba, M. E. (2024). Freshwater wetland restoration and conservation are long-term natural climate solutions. Science of The Total Environment, 922, 171218. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2024.171218
Tran, T. V., Reef, R., & Zhu, X. (2024). Long-term changes of mangrove distribution and its response to anthropogenic impacts in the Vietnamese Southern Coastal Region. Journal of Environmental Management, 370, 122658. https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2024.122658
Truyen, D. M., Bouttavong, P., Doerr, K. S., Le, Q. P., Tumpeesuwan, S. (2014). The water management at Tram Chim National Park, Vietnam. Asian Journal of Agriculture and Biology. https://www.asianjab.com/the-water-management-at-tram-chim-national-park-vietnam/
U.S. Congress, Office of Technology Assessment. (1984). Wetlands: Their use and regulation. https://digitalcommons.unl.edu/usdeptcommercepub/220/











